N.V. Varghese
N.V. Varghese là Giáo sư thỉnh giảng danh dự tại Viện Công nghệ Bombay và nguyên Giám đốc Học viện Kế hoạch và Quản lý Giáo dục Quốc gia (NIEPA), New Delhi, Ấn Độ. Email: [email protected].
Công bằng là mối quan tâm toàn cầu và là cam kết quốc gia. Nhiều chính sách công bằng đã thành công trong việc cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục đại học cho các nhóm yếu thế, nhưng hiệu quả của chúng trong việc nâng cao chất lượng học tập và kết quả tốt nghiệp cần được kiểm chứng thực nghiệm. Thách thức nằm ở việc đảm bảo cho các chiến lược của trường mở rộng việc hỗ trợ học thuật và đưa ra sáng kiến phát triển các khuôn viên hòa nhập. Những thay đổi chính sách gần đây cho thấy cuộc chiến vì công bằng trong giáo dục đại học cần phải kiên quyết và bền bỉ hơn.
Sự bất bình đẳng đã trở thành mối quan tâm chính trong các cuộc thảo luận về chính sách công trong những thập kỷ gần đây. Mặc dù trước đây, các cuộc thảo luận thường tập trung vào bất bình đẳng thu nhập, nhưng trọng tâm đã dần dần và đều đặn chuyển sang bất bình đẳng xã hội.
Nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra mối quan hệ chồng chéo giữa thu nhập và giáo dục. Trên thực tế, giáo dục đã nổi lên như một biến số quan trọng nhất giải thích cho sự chênh lệch tiền lương giữa các cá nhân. Người ta cũng thấy giáo dục có tác động lâu dài đến thu nhập, sự dịch chuyển giữa các thế hệ, sự thiệt thòi tích lũy và bất bình đẳng dai dẳng giữa các thế hệ. Do đó, chống lại nghèo đói về giáo dục đã trở thành một lĩnh vực ưu tiên để đảm bảo công bằng. Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) 4 và 10 của Liên Hợp Quốc, cùng với cam kết toàn cầu “không bỏ ai lại phía sau”, đã trở thành lời hứa cốt lõi mang tính chuyển đổi của chương trình nghị sự 2030.
Mở rộng, đa dạng hóa và công bằng
Việc mở rộng giáo dục đại học mang lại lợi ích cho người nghèo về mặt tiếp cận giáo dục đại học. Tuy nhiên, mở rộng mà không kèm theo các chính sách công bằng có mục tiêu có thể không có lợi cho những người kém may mắn. Việc đại chúng hóa lĩnh vực này đã làm giảm các chỉ số bất bình đẳng ở bất kỳ nơi nào có chính sách công bằng. Tương tự như vậy, việc đa dạng hóa hệ thống cũng mang lại lợi ích cho những người kém may mắn. Nhiều quốc gia có thu nhập cao đã thành công trong việc đa dạng hóa hệ thống và giảm bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục đại học. Các hệ thống giáo dục đại học ở châu Âu và Hoa Kỳ đã đa dạng hóa trong những năm 1960 và 1970, mang lại lợi ích cho các nhóm yếu thế. Tuy nhiên, lĩnh vực giáo dục đại học ở các nước kém phát triển vẫn kém đa dạng và tương đối mang tính tinh hoa trong những giai đoạn này.
Chính sách công bằng giữa các quốc gia
Các chiến lược phổ biến nhất được sử dụng để thúc đẩy công bằng là ưu tiên dựa trên hạn ngạch và phân bổ nguồn lực không đồng đều theo hướng có lợi cho những người yếu thế. Chính sách công bằng giữa các quốc gia có thể được phân loại thành ba loại. Loại thứ nhất, chính sách công bằng dựa trên các tiêu chí xã hội. Các quốc gia có sự đa dạng xã hội rộng rãi thường áp dụng các chính sách tuyển sinh có lợi cho các nhóm yếu thế. Ví dụ, nhiều quốc gia ở châu Á và châu Phi đã tuân theo các tiêu chí xã hội làm cơ sở cho các chính sách công bằng. Loại thứ hai, chính sách công bằng dựa trên các tiêu chí kinh tế. Các quốc gia có chỉ số phân hóa xã hội/ sắc tộc tương đối thấp có xu hướng tuân theo các tiêu chí kinh tế làm cơ sở để thúc đẩy công bằng. Loại thứ ba, chính sách công bằng dựa trên các tiêu chí khu vực. Các quốc gia có mức độ chênh lệch khu vực cao thường tuân theo hạn ngạch địa lý làm cơ sở cho việc tuyển sinh, cũng như thành lập các trường mới.
Các chính sách công bằng đã thành công trong việc mở rộng giáo dục đại học cho các nhóm yếu thế và giảm bất bình đẳng trong tiếp cận. Tuy nhiên, do thiếu các chương trình hỗ trợ học thuật đầy đủ và các chiến lược thể chế toàn diện, thành công trong tiếp cận vẫn chưa chuyển hóa hoàn toàn thành thành công trong học tập và đầu ra cho thị trường lao động.
Đôi khi, các quốc gia áp dụng kết hợp các tiêu chí này. Ví dụ, nhiều quốc gia châu Phi có chương trình tài trợ cho sinh viên. Nhiều quốc gia có thu nhập trung bình và cao, cũng như các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi, hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn thông qua các khoản tài trợ đặc biệt. Một số quốc gia đã thành lập các tổ chức dành riêng cho các nhóm dân tộc thiểu số và nhóm yếu thế.
Các chính sách công bằng đã thành công trong việc cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục đại học cho các nhóm yếu thế. Tuy nhiên, liệu các chính sách này có tiếp tục thành công khi mở rộng sang lĩnh vực học tập và kết quả tốt nghiệp hay không thì vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.
Những thách thức đối với vấn đề công bằng trong giáo dục đại học
Một số thách thức đã hạn chế tiềm năng của các chính sách công bằng trong việc đạt được những mục tiêu bổ sung nhưng cũng quan trọng không kém này.
Thứ nhất, chủ nghĩa tinh hoa trong giáo dục đại học cản trở sự tiến bộ. Bản chất vị thế của giáo dục đại học khiến cho công bằng và bình đẳng khó mà đạt được. Các trường đại học tinh hoa không mặn mà với việc mở rộng tuyển sinh. Trên thực tế, sinh viên cạnh tranh để giành suất vào những trường tốt nhất và các trường đại học tinh hoa cạnh tranh để giành được những sinh viên giỏi nhất. Tuyển sinh là cuộc cạnh tranh giữa các trường đại học tinh hoa và sinh viên tinh hoa, bỏ lại đằng sau những sinh viên thuộc nhóm yếu thế. Các trường đại học tinh hoa ở Hoa Kỳ và Vương quốc Anh thu hút một bộ phận lớn sinh viên đến từ các nhóm xã hội cao và nhóm thu nhập hàng đầu.
Thứ hai, việc đảm bảo công bằng trong kết quả học tập của sinh viên vẫn còn nhiều thách thức. Nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ bỏ học cao, kết quả học tập thấp và đầu ra cho thị trường lao động kém ở sinh viên thuộc các nhóm yếu thế. Dường như thành công của các chính sách công bằng nhằm cải thiện khả năng tiếp cận vẫn chưa chuyển thành kết quả học tập tốt hơn. Thách thức trong việc phát triển các chiến lược của trường nhằm cung cấp hỗ trợ học tập và phát triển khuôn viên hòa nhập vẫn là một nhiệm vụ chưa hoàn thành.
Cuối cùng, các chính sách công bằng đã bị đảo ngược trong nhiều bối cảnh, làm suy yếu phần lớn những tiến bộ đã đạt được cho đến nay. Phán quyết của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2023 rằng việc sử dụng yếu tố chủng tộc trong quá trình tuyển sinh là vi hiến – một luật mới được ban hành chống lại các chương trình đa dạng hóa, công bằng và hòa nhập ở Hoa Kỳ và việc hạn chế trợ cấp và hỗ trợ tài chính ở một số quốc gia khác, đều là những ví dụ gây tổn hại đến các chính sách công bằng nhắm vào các nhóm yếu thế.
Kết luận
Các chính sách công bằng đã thành công trong việc mở rộng giáo dục đại học cho các nhóm yếu thế và giảm bất bình đẳng trong tiếp cận. Tuy nhiên, do thiếu các chương trình hỗ trợ học thuật đầy đủ và các chiến lược thể chế toàn diện, thành công trong tiếp cận vẫn chưa chuyển hóa hoàn toàn thành thành công trong học tập và đầu ra cho thị trường lao động. Hơn nữa, những thay đổi chính sách trong những năm gần đây có thể cản trở những tiến bộ đã đạt được trong lĩnh vực công bằng cho đến nay. Cuộc chiến cải thiện công bằng và xây dựng một hệ thống giáo dục đại học toàn diện cần phải kiên quyết và bền bỉ hơn.
