Năm sự thật ít được biết đến về sinh viên quốc tế tại Anh

Janet Ilieva là Giám đốc sáng lập Tổ chức Giáo dục Insight, Anh Quốc. E-mail: janet.ilieva@educationinsight.uk.

Bài viết này được đăng tại Universities UK International https://www.universitiesuk.ac.uk/International/Pages/five-little-known-facts-about-international-student-mobility-to-the-UK.aspx

Thập kỷ vừa qua là thời gian đầy thách thức đối với du học sinh đến Anh. Trước tiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 làm ảnh hưởng đến ngân sách dành cho giáo dục của các quốc gia, và du học sinh toàn cầu cũng bị ảnh hưởng. Quy định cấp thi thực nghiêm ngặt hơn trước và các quy định mới đối với sinh viên tốt nghiệp được ban hành vào năm 2013. Cuối cùng là cuộc trưng cầu Brexit (2016) ảnh hưởng chủ yếu đến sinh viên từ Liên minh châu Âu (EU).

Sự sụt giảm số lượng sinh viên quốc tế nói chung (từ các nước EU và từ ngoài EU) được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2012-2013, cũng là lần sụt giảm đầu tiên trong gần ba thập kỷ. Tình trạng này chủ yếu bị quy cho sự sụt giảm số lượng sinh viên quốc tế đến từ các nước EU, bởi vì học phí của họ đã tăng gấp ba vào năm 2012-2013. Lần sụt giảm thứ hai được ghi nhận vào năm 2014–2015, và nguyên nhân được cho là vì rất ít sinh viên quốc tế từ ngoài EU đến học tập tại các trường đại học Anh. Trong những năm tiếp theo, trái ngược với sự tăng trưởng cao ở những nơi khác, sinh viên quốc tế đến Anh và EU vẫn tiếp tục giảm.

Sinh viên mới tham gia du học: xu hướng tuyển sinh quốc tế

Sự thật 1: Tỷ lệ tuyển sinh viên mới tham gia du học của Anh là lớn nhất trong nhóm so sánh. Nhóm so sánh với Anh Quốc là những quốc gia có số lượng sinh viên quốc tế lớn nhất vào năm 2015 theo báo cáo của Viện Thống kê UNESCO, bao gồm Hoa Kỳ, Úc và Đức. Hơn một nửa số sinh viên quốc tế ở Anh là những người mới tham gia du học, nghĩa là họ đang học năm đầu tiên. Con số tương ứng của Hoa Kỳ và Đức là 32% và 36%. Phần nào do thời gian đào tạo của các đại học Anh ngắn hơn, thường là ba năm, so với bốn năm ở Hoa Kỳ. Các chương trình thạc sĩ ở Anh kéo dài một năm, trong khi ở Đức và Hoa Kỳ thường là hai năm.

Tỷ lệ sinh viên mới cao đồng nghĩa với việc các trường đại học Anh phải liên tục tuyển sinh. Điều này đòi hỏi các nỗ lực tiếp thị, tiếp cận đối tượng tiềm năng, khuyến mãi và cả hệ thống thị thực hợp lý nhằm tạo thuận lợi cho doanh vụ này. Doanh thu cao từ sinh viên quốc tế cũng cho thấy hệ thống giáo dục đại học Anh dễ bị tổn thương hơn trước những biến động của nhu cầu sinh viên toàn cầu và của môi trường bên ngoài.

Tuyển sinh sinh viên quốc tế sau đại học

Sự thật 2: tỷ lệ du học sinh sau đại học tuyển mới ở Anh cũng cao nhất trong nhóm so sánh. Anh Quốc có số lượng sinh viên thạc sĩ và nghiên cứu sinh quốc tế lớn thứ hai trong các quốc gia OECD, chỉ sau Hoa Kỳ. Năm học 2016-2017, Hoa Kỳ có 391 ngàn sinh viên quốc tế sau đại học, gấp đôi so với Anh. Tuy nhiên, do thời gian học dài hơn, 32% tổng số sinh viên quốc tế sau đại học của Hoa Kỳ đang học năm đầu tiên, trong khi ở Anh là 68%. Mặc dù quy mô sau đại học của Anh chỉ bằng một nửa so với Hoa Kỳ, tỷ lệ sinh viên quốc tế sau đại học đang học năm đầu tại Anh lại cao hơn. Điều này có nghĩa là những thay đổi của môi trường như nhu cầu, chính sách thị thực và quyền làm việc sau khi tốt nghiệp sẽ ảnh hưởng ngay lập tức đến 2/3 số lượng sinh viên quốc tế sau đại học.

Cơ hội làm việc khi học xong

Sự thật 3: Có một mối tương quan tích cực mạnh mẽ giữa cơ hội làm việc sau khi học và tăng trưởng tuyển sinh quốc tế. Trong nhiều yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến xu hướng tuyển sinh sinh viên quốc tế, nghiên cứu cho thấy sinh viên quốc tế coi trọng và xem cơ hội có được kinh nghiệm làm việc là một phần của giáo dục quốc tế. Bất chấp một thực tế là Anh Quốc cũng cung cấp nhiều cơ hội làm việc trong thời gian học như các đối thủ cạnh tranh lớn, các lựa chọn công việc sau khi học lại hạn chế hơn và ít được đề cập. Số liệu thống kê cho thấy sinh viên quốc tế du học đến Anh có mức tăng trưởng thấp nhất trong khoảng thời gian từ 2012 đến 2015. Sinh viên quốc tế tại Anh Quốc chỉ tăng 0,7%, thấp hơn nhiều so với những nước có nhiều cơ hội làm việc sau khi học: tăng trưởng ở Úc là 18%; 26,9% ở Canada; 16,3% tại Đức; và 22,5% tại Hoa Kỳ.

Hơn một nửa số sinh viên quốc tế ở Anh là những người mới tham gia du học, nghĩa là họ đang học năm đầu tiên.

Nghiên cứu sinh quốc tế sau đại học

Sự thật 4: Nhu cầu nghiên cứu quốc tế sau đại học tại Anh Quốc không bền vững. Nghiên cứu sinh quốc tế sau đại học là bộ phận đặc biệt quan trọng đối với giáo dục đại học ở Anh. Họ chiếm 43% tổng số nghiên cứu sinh tại Anh Quốc. Chúng tôi đã phân tích các nguồn kinh phí dành cho nghiên cứu sinh quốc tế và nhận thấy rằng các khoản miễn trừ học phí và tiền thưởng là nguồn tài trợ duy nhất tăng lên trong hai năm qua. Sụt giảm đáng kể nhất là nhóm nghiên cứu sinh du học tự túc và nhóm nhận tài trợ từ nước khác (chủ yếu là từ các chương trình học bổng của chính phủ).

Giáo dục xuyên quốc gia

Sự thật 5: Hầu hết sinh viên quốc tế theo học các chương trình của Anh Quốc đều học tập ở nước ngoài. Không những có chương trình học ngắn hơn, đại học Anh còn là nhà đổi mới trong việc đa dạng hóa phương thức học tập và giáo dục đại học chuyển tiếp, giúp sinh viên quốc tế linh hoạt hơn về thời gian và nơi học mà vẫn có bằng cấp của Anh Quốc. Hơn 60% sinh viên quốc tế trong các chương trình giáo dục đại học của Anh đang học bên ngoài nước Anh – theo các chương trình giáo dục xuyên quốc gia (TNE). Có một mối liên hệ rõ ràng giữa TNE và tuyển sinh đến Anh. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng 1/3 sinh viên bên ngoài EU học năm đầu tiên chương trình đại học của Anh là theo hình thức TNE. Tỷ lệ này còn cao hơn trong sinh viên ở Trung Quốc, Malaysia và Hồng Kông là những quốc gia có hơn một nửa số sinh viên năm đầu đại học đang “du học Anh” ngay tại quốc gia quê nhà hoặc quốc gia họ cư trú. Bắt đầu bằng du học trong nước, cộng với thời gian học tại Anh ngắn hơn là một cách thức hiệu quả về chi phí để có được bằng cấp quốc tế. Điều này cũng có nghĩa là TNE đang mở rộng giáo dục đại học Anh đến những sinh viên không đủ điều kiện tài chính để du học tại Anh.

Kỳ vọng gì trong những năm tới

Những yếu tố không chắc chắn xung quanh các chính sách của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến lựa chọn học tập của sinh viên quốc tế: như tác động của Brexit đến quyền lợi của sinh viên EU; tác động của chính sách nhập cư của Tổng thống Donald Trump; những thay đổi của kinh tế vĩ mô như sự biến động của giá cả tiền tệ và hàng hóa, đặc biệt là dầu mỏ, trong số các yếu tố khác, ảnh hưởng đến ngân sách của các chính phủ nước ngoài dành cho học bổng nghiên cứu quốc tế. Như trường hợp các chương trình học bổng lớn của Brazil, Iraq, Malaysia và Ả Rập Saudi đã bị ảnh hưởng. Ngay cả khi điều kiện kinh tế thay đổi tốt lên, có những bằng chứng cho thấy nhiều quốc gia trước đây là nguồn cung cấp sinh viên được tài trợ du học giờ đây đang chuyển sự quan tâm sang việc phát triển đào tạo trong nước.

Một ví dụ về việc dịch chuyển từ tài trợ du học sang phát triển các học viện nghiên cứu tập trung vào quốc tế hóa là một chương trình mới của Brazil nhằm quốc tế hóa các tổ chức nghiên cứu và giáo dục đại học Brazil (Capes-PrInt). Chương trình được tài trợ bởi CAPES và được xem là sự kế thừa của chương trình Khoa học không biên giới. Ngoài ra, Thái Lan, Việt Nam và Philippines đang tập trung nâng cao năng lực giáo dục đại học trong nước bằng các chính sách thu hút đại học nước ngoài phát triển TNE cho một số ngành. Đây là cơ hội cho các quốc gia tham gia vào giáo dục xuyên biên giới. Một lập luận mạnh mẽ ủng hộ cho việc hỗ trợ cung cấp giáo dục hợp tác (bằng đôi/liên kết, học tập từ xa/trực tuyến) chính là tiềm năng mở rộng tiếp cận giáo dục đại học, hỗ trợ xây dựng năng lực địa phương và phát triển giảng viên. Vẫn cần thời gian để đánh giá mức độ đóng góp của mô hình hợp tác TNE vào việc tạo thêm các cơ hội công bằng tiếp cận giáo dục chất lượng cao, nhưng có một điều chắc chắn đây là một lĩnh vực sẽ tăng trưởng nhanh chóng trong tương lai.