Giáo dục Đại học tư tại Anh Quốc

Stephen A. Hunt là Cộng tác viên nghiên cứu tại Trung tâm Giáo dục Đại học Toàn cầu, Viện Giáo dục, Đại học London, Anh Quốc. E-mail: stephen.hunt@ucl.ac.uk. Vikki Boliver là Giáo sư Xã hội học của Khoa Xã hội học, Đại học Durham, Anh Quốc. E-mail: vikki.boliver@durham.ac.uk.

Phần lớn nhiệm vụ giáo dục đại học tại Anh Quốc từ trước tới nay vẫn được thực hiện bởi các trường đại học và cao đẳng thuộc hệ thống công lập. Danh hiệu “Đại học” và “Cao đẳng thuộc Đại học” được pháp luật bảo hộ, đồng nghĩa với quyền cấp bằng, và cho đến gần đây, vẫn là đặc quyền của khu vực đại học công. Đại học Buckingham, trường đại học tư đầu tiên và duy nhất trong nhiều thập kỷ, chỉ nhận được danh hiệu “đại học” vào năm 1983.

Tuy nhiên, từ lâu đã có một khu vực tư nhân gồm các trường cao đẳng chuyên nghiệp và các tổ chức dạy nghề đào tạo những ngành ngách mà các trường đại học không dạy. Từ thực hành luật, kế toán đến tâm lý trị liệu, đọc chỉ tay. Trong các lĩnh vực nghệ thuật sáng tạo các nhà cung cấp giáo dục tư nhân cũng giữ những vị trí đáng chú ý: từ các trường thiết kế và nghệ thuật độc lập đến những học viện độc quyền đào tạo diễn viên trong gần suốt thế kỷ XX.

Gần đây, chính phủ Anh tìm cách thúc đẩy sự tăng trưởng của khu vực giáo dục đại học tư. Như được trình bày trong sách trắng chiến lược của chính phủ Thành công của nền Kinh tế Tri thức: Giảng dạy xuất sắc, Dịch chuyển xã hội và Lựa chọn của sinh viên, chính phủ cho rằng cung cấp nhiều dịch vụ tư nhân hơn ​​sẽ kích thích sự cạnh tranh trong toàn ngành, dẫn đến “có nhiều lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo hơn, chất lượng cao hơn với chi phí thấp hơn” (trang 8). Chính phủ cũng nhìn nhận rằng các trường tư đáp ứng tốt hơn những yêu cầu thay đổi của các nhà tuyển dụng liên quan đến kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp đại học, họ cũng tỏ ra linh hoạt hơn trong việc cung cấp dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của những sinh viên quốc tế tiếp tục theo học các chương trình đại học của Anh Quốc. Cuối cùng chính phủ đã ban hành luật cho phép các trường tư tiếp cận dễ dàng hơn các danh hiệu hợp pháp và quyền cấp bằng.

Bất chấp những tham vọng của chính phủ, phần lớn khu vực tư thục vẫn là một ẩn số. Không nhận ngân sách công, khu vực tư thục không chịu bất kỳ sự ràng buộc hoặc giám sát chính thức nào, cũng như không hề có bất kỳ hệ thống nào thu thập dữ liệu về các nhà cung cấp tư nhân. Đã có một số nỗ lực thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng phương pháp khảo sát theo bảng câu hỏi, nhưng kết quả thu được là tỷ lệ trả lời thấp, không bao giờ vượt quá 40%.

Thay thế cách tiếp cận kém hiệu quả nói trên bằng một phương pháp được thiết kế để nghiên cứu được nhiều nhất các tổ chức giáo dục tư thục tại Anh Quốc, chúng tôi thu thập dữ liệu từ các trang web của tất cả các tổ chức giáo dục tư đang hoạt động, và dữ liệu về họ từ Cơ quan Quản lý Đăng ký Công ty của Anh và/hoặc Cơ quan Quản lý Đăng ký Tổ chức Từ thiện. Phương pháp này cho phép mô tả đặc điểm khu vực tư thục theo ngành đào tạo và loại bằng cấp.

Quy mô và thành phần của khu vực thục

Khảo sát của chúng tôi xác định được tổng cộng 813 tổ chức giáo dục tư thục đang hoạt động tại Anh Quốc vào năm 2017. Trong số này, chỉ 115 tổ chức được phép nhập học những sinh viên được vay học phí từ ngân sách chính phủ để theo các “khoá học được chỉ định”.

Trong Anh Quốc, trường tư tập trung chủ yếu ở Anh (88%), ở những nơi khác chỉ như một hình thức trang trí. Ngoài ra có thể nhận thấy những bằng chứng về xu hướng tập trung ở thủ đô: 37% tại London và gần 50% ở phía đông nam nước Anh.

Năm trường có danh hiệu đại học, và bốn trường có danh hiệu cao đẳng đại học. Đây chủ yếu là các trường cao đẳng đào tạo chuyên nghiệp các ngành luật, kế toán, quản lý bất động sản, ngân hàng và đã hoạt động nhiều thập kỷ. Cả 9 nhà cung cấp này đều đã có quyền cấp bằng giống như một trường khác, chẳng hạn Đại học Buckingham. Nhưng không như Đại học Buckingham, trong số 9 trường nói trên, trường nhận được danh hiệu sớm nhất là vào năm 2006, và có quyền cấp bằng vào năm 2010.

Sáu mươi lăm phần trăm các trường tư đăng ký là công ty vị lợi nhuận, họ có tuổi đời trẻ hơn các trường tư phi lợi nhuận. Đa số các trường vị lợi nhuận chưa đến 20 tuổi, còn phần lớn các trường phi lợi nhuận trên 20 tuổi. Tỷ lệ thất bại của các trường vị lợi nhuận cũng lớn hơn: 23% trong số 732 trường được xác định vào năm 2014 đã ngừng hoạt động vào năm 2017, 90% trong số đó là trường vị lợi nhuận.

Bằng cấp và ngành học

Văn bằng đại học của Anh Quốc có các loại từ cấp 4 đến cấp 8 (tương tự ở Scotland), cấp 6 là bằng cử nhân. Khu vực tư thục có xu hướng tập trung đào tạo những nội dung được cấp chứng chỉ ở cấp 4 (58% các nhà cung cấp) và cấp 5 (53%). Những trường tư thục có đào tạo trình độ sau đại học – chủ yếu là văn bằng cấp 7 –  chiếm 43%. Chỉ 20% các trường tư cung cấp sản phẩm dịch vụ chính của giáo dục đại học là chương trình cử nhân.

Về mặt chất lượng dịch vụ, các nhà cung cấp tư nhân có mức độ chuyên môn hóa cao: hầu hết (64%) chỉ đào tạo một chuyên ngành. Hơn 24% đào tạo 2 chuyên ngành, và chỉ 12% trường tư đào tạo 3 chuyên ngành trở lên.

Thành phần sinh viên trong khu vực tư thục cũng có những điểm khác biệt so với khu vực công.

Ngành học phổ biến nhất là kinh doanh và quản trị, được dạy ở hơn một nửa các trường tư thục (56%) do có chi phí thấp, nhu cầu học cao, và nhiều loại chứng chỉ chuyên môn được công nhận chính thức (Văn phòng Quy định về Tiêu chuẩn và Thi cử liệt kê 353 loại chứng chỉ ở cấp 4 trở lên). Các khóa học này cũng là đặc sản của các tổ chức vị lợi nhuận: gần 3/4 trường tư vị lợi nhuận đào tạo các khóa học về kinh doanh và quản trị, trong khi chỉ 1/4 các trường phi lợi nhuận cung cấp các khóa học này.

Những nội dung khác thường được đào tạo là “những môn liên quan đến y học” và nghệ thuật sáng tạo và thiết kế. Trong lĩnh vực sau số trường phi lợi nhuận nhiều gấp đôi số trường vị lợi nhuận (20% so với 10%).

Sinh viên đại học

Khảo sát chỉ thu thập được một phần thông tin sinh viên của một nhóm nhỏ những trường tư cung cấp các “khóa học được chỉ định”: năm học 2016-2017 có 58.735 sinh viên theo học các “khóa học được chỉ định” (sinh viên có thể vay học phí) trong các trường tư, con số này chiếm hơn 2% tổng số sinh viên toàn Anh Quốc.

Thành phần sinh viên trong khu vực tư thục cũng có những điểm khác biệt so với khu vực công: độ tuổi trung bình của họ cao hơn; tỷ lệ là người dân tộc thiểu số cao hơn; mặc dù sinh viên nữ chiếm đa số trong cả hai khu vực, tỷ lệ nam của khu vực tư thục cao hơn so với khu vực công. Một nửa trong 10 trường có tỷ lệ sinh viên bỏ học cao nhất khi đang theo học bằng cấp đầu tiên là trường tư. Người ta cho rằng các trường tư phải đối mặt với tỷ lệ bỏ học cao vì có tỷ lệ sinh viên phi truyền thống cao hơn.

Kết luận

Khu vực đại học tư nhân ở Anh Quốc có đặc tính phát triển riêng biệt và khá đa dạng. Nhiều nhà cung cấp sản phẩm ngách và thường là phi lợi nhuận tiếp tục cung cấp dịch vụ đào tạo chuyên nghiệp: những trường gần đây được nâng cấp thành đại học hoặc cao đẳng đại học phần lớn xuất thân từ nhóm này. Các trường vị lợi nhuận mở ra gần đây thường sao chép mô hình và sản phẩm dịch vụ của nhau, đào tạo các chứng chỉ cấp thấp, và chia sẻ cùng một thị phần sinh viên phi truyền thống. Khu vực đại học tư rõ ràng đang đáp ứng nhu cầu thị trường, nhưng dường như chưa cung cấp được một lựa chọn thay thế cho khu vực công. Để nâng tầm khu vực này Anh Quốc không thể chỉ dựa vào những nỗ lực và đầu tư trong nước. Kỳ vọng khu vực tư thục thực sự thay thế cho khu vực công chỉ có thể trở thành hiện thực bằng cách thu hút đầu tư quốc tế.