Quốc tế hóa các trường đại học: cách làm của Đức

Marijke Wahlers là Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế, Hiệp hội Hiệu trưởng các trường Đại học Đức (German Rectors’ Conference). E-mail: wahlers@hrk.de.

Trong các trường đại học Đức, quốc tế hóa đã phát triển mạnh từ cuối những năm 1980; thực ra, trong lịch sử khái niệm này dựa trên ý tưởng về hợp tác và quan hệ đối tác, xuất phát từ niềm tin sau năm 1945 rằng chỉ một nước Đức neo đậu vững chắc ở châu Âu và thế giới mới được quốc tế chấp nhận và có thể thành công về mặt kinh tế. Do đó, nước Đức đã có truyền thống ủng hộ về mặt chính trị đối với việc trao đổi sinh viên và các nhà nghiên cứu trongquan hệ hợp tác đại học quốc tế trên cơ sở bình đẳng và tin cậy. Trong những năm 1990, nhiều sáng kiến song phương, như Đại học Pháp – Đức và Đại học Trung – Đức dành cho nghiên cứu sau đại học, minh hoạ cho ý tưởng tin cậy và hợp tác nhằm mục đích thúc đẩy trao đổi và hiểu biết văn hoá của đôi bên. Phương pháp tiếp cận quốc tế hóa dựa trên tinh thần hợp tác này từ đó được tiếp thêm động lực mạnh mẽ từ những chương trình giáo dục của Liên minh châu Âu yêu cầu du học sinh hội nhập toàn diện vào các chương trình học tập chính thức.

Gần đây hơn, sự cạnh tranh ngày càng tăng trong hệ thống giáo dục của Đức, cùng với những ảnh hưởng của toàn cầu hóa, đã dẫn đến sự xuất hiện cách tiếp cận cạnh tranh hơn. Điểm thú vị là, những yếu tố thúc đẩy chính cũng lại xuất phát từ châu Âu, đặc biệt là mục tiêu do các Bộ trưởng Giáo dục châu Âu đặt ra trong năm 1998 hướng đến tạo lập một Khu vực Giáo dục Đại học châu Âu có sức cạnh tranh và thu hút quốc tế cao, nhằm đạt được một phần đáng kể trong thị trường du học và trao đổi nghiên cứu toàn cầu. Cần lưu ý rằng các trường đại học của Đức khá dè dặt với lối nói hoa mỹ như “cuộc đua tìm kiếm tài năng”. Vì nhiều lý do, ý tưởng về việc tự quảng cáo khá xa lạ với họ. Thứ nhất, cơ hội tiếp cận giáo dục đại học khá dễ dàng và giả định cố hữu rằng các trường đại học của đất nước này đều thống nhất về chất lượng đồng nghĩa với việc họ không có kinh nghiệm tiếp thị để thu hút sinh viên. Thứ hai, họ tin rằng chất lượng giảng dạy và nghiên cứu của các trường đại học của Đức đã nổi tiếng trên toàn thế giới, và những chứng nhận thương hiệu này đủ để giúp họ giành được thị phần giáo dục đại học quốc tế.

Những động lực thu hút sinh viên quốc tế

Tương tự như vậy, hợp tác và cạnh tranh để thu hút sinh viên quốc tế đã cùng tồn tại trong nhiều năm, mặc dù hai cách tiếp cận này khác nhau và không có mối liên quan. Cách tiếp cận mang tính hợp tác bắt nguồn từ truyền thống của Đức trong việc cung cấp giáo dục đại học miễn phí. Trong bối cảnh này, số sinh viên quốc tế học tập tại các trường đại học của Đức ngày càng tăng lên, họ hoặc tham dự các khóa học như một phần của văn bằng được cấp bởi các tổ chức giáo dục ở quê nhà, hoặc theo các khóa học trọn vẹn để nhận văn bằng do các trường Đức cấp. Sinh viên từ các quốc gia đang phát triển và các quốc gia ở ngưỡng phát triển được nhận hỗ trợ tài chính đi kèm với yêu cầu trở về quốc gia của họ ngay sau khi hoàn thành chương trình học tập để chống lại hiệu ứng chảy máu chất xám. Việc cung cấp giáo dục cho một số lượng lớn sinh viên quốc tế với chi phí do người đóng thuế Đức được coi là đóng góp của nước Đức vào việc trao đổi quốc tế và phát triển toàn cầu. Động lực khác không kém phần quan trọng, cựu sinh viên quốc tế từ các trường đại học Đức là các đại sứ và đối tác quan trọng của Đức trên toàn thế giới.

Có thể nhận thấy cách tiếp cận mang tính cạnh tranh trong các sáng kiến toàn quốc như GATE-Germany, qua đó các trường đại học của Đức dần dần chấp nhận và xây dựng năng lực tiếp thị quốc tế. Các trường đại học ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hội chợ giáo dục quốc tế và các sáng kiến tương tự; một số trường thậm chí còn thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài nhằm thu hút những sinh viên xuất sắc và những nhà nghiên cứu vừa bắt đầu sự nghiệp. Cách tiếp cận này không chỉ được chính phủ mà cả ngành công nghiệp hỗ trợ, mặc dù, đáng tiếc rằng ngành công nghiệp, với góc nhìn một chiều, đôi khi vẫn chỉ nhìn nhận các trường đại học như những “khối nam châm” hấp dẫn các cá nhân có trình độ học vấn từ nước ngoài.

Hai cách tiếp cận song song này đã dẫn đến sự gia tăng lớn số lượng sinh viên quốc tế tại Đức trong hai thập kỷ qua – từ 158.000 năm 1997 lên khoảng 358.000 vào năm 2017 (khoảng 12% tổng sinh viên). Cũng cần lưu ý rằng bộ phận sinh viên quốc tế rất không đồng nhất. Như ở hầu hết ở các nước khác, sinh viên Trung Quốc là đông nhất. Tuy nhiên, sinh viên Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 13% trong tổng số sinh viên quốc tế ở Đức, trong khi ở Úc là 30%, Hoa Kỳ 32%, và Anh 37%. Tổ chức các khóa học ngôn ngữ và các môn chính khóa cũng như hỗ trợ và tư vấn thường xuyên cho nhiều đối tượng sinh viên quốc tế khác nhau là những thách thức đáng kể đối với các trường đại học Đức, không chỉ trong vấn đề tài chính. Trong khi đó, sinh viên quốc tế xem nước Đức là nơi tiềm năng đáng kể cho học tập và nghiên cứu. Sự đóng góp đáng giá này, ví dụ tạo thành một “lớp học quốc tế” đúng nghĩa, ngày càng được các trường đại học công nhận và sử dụng.

Những điều này dẫn chúng ta đến đâu?

Trừ vài trường hợp ngoại lệ, số lượng sinh viên quốc tế gia tăng đáng kể; trong khi đó các trường đại học vẫn không yêu cầu đóng góp tài chính hoặc thu học phí từ nhóm sinh viên này. Không có gì lạ khi điều này khiến toàn thế giới kinh ngạc, các đối tác quốc tế tự hỏi liệu các đồng nghiệp Đức đơn giản là ngây thơ và tốt bụng hay thật ra là rất khôn ngoan.

Trong các trường đại học Đức, quốc tế hóa đã phát triển mạnh từ cuối những năm 1980; thực ra, trong lịch sử khái niệm này dựa trên ý tưởng về hợp tác và quan hệ đối tác.

Câu hỏi đặt ra là trong tương lai, liệu hai cách tiếp cận đôi khi mâu thuẫn được miêu tả trên đây có thể hài hoà với nhau không, và bằng cách nào nước Đức có thể làm theo cách của các quốc gia dẫn đầu, như các nước châu Âu khác, là yêu cầu sinh viên quốc tế đóng các khoản phí cần thiết để trang trải cho học tập. Lập luận rằng người nộp thuế Đức không phải trả học phí cho sinh viên quốc tế là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, ví dụ về việc bang Baden-Württemberg (bắt đầu từ học kỳ mùa đông này) áp dụng mức phí cho sinh viên quốc tế đến từ các nước ngoài Liên minh châu Âu minh hoạ rằng một phân tích chi phí-lợi ích quá đơn giản nhìn chung không thỏa đáng trong một hệ thống gồm các trường công lập là chủ yếu như ở Đức. Trong trường hợp này, rõ ràng là các trường đại học sẽ không được lợi từ khoản thu nhập thêm: trong khi phải quản lý thêm khối lượng công việc hành chính, họ phải chuyển tới 80% doanh thu cho liên bang.

Vì vậy, có nhiều lý do để ủng hộ một lựa chọn thay thế: trong thị trường cạnh tranh toàn cầu, nước Đức có thể tăng cường hơn nữa hình ảnh của mình bằng cách tiếp tục theo đuổi cách tiếp cận dựa trên quan hệ đối tác. Điều này có nghĩa là nước Đức chủ ý tách mình ra khỏi xu hướng các trường đại học tuyển sinh sinh viên quốc tế nhằm bù đắp ngân sách thiếu hụt. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy không chỉ các trường đại học, mà cả xã hội và nền kinh tế đều gặt hái được những lợi ích lâu dài. Vì lẽ đó, các trường đại học Đức vẫn đủ khả năng để quốc tế hoá hơn nữa các cấu trúc của họ và tạo ra những điều kiện hấp dẫn cho sinh viên, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia từ khắp nơi trên thế giới. Sức hấp dẫn không chỉ phụ thuộc vào khuôn khổ pháp lý cho học tập, nghiên cứu và việc làm, mà còn vào việc xây dựng một nền văn hoá quốc tế bên trong các trường đại học và rộng hơn. Tuy nhiên, lập luận này không có ý nói rằng sinh viên – kể cả sinh viên quốc tế – nên được miễn đóng góp tài chính cho các chi phí đào tạo họ. Trong một thời gian dài, Hiệp hội các Hiệu trưởng trường đại học Đức đã bày tỏ sự ủng hộ với việc đặt ra mức học phí được xã hội hóa, vừa phải cho tất cả các sinh viên.

Cần có thêm thời gian mới biết được tình hình sẽ phát triển theo hướng nào. Chính quyền mới được bầu ở Bắc Rhine-Westphalia, bang đông dân nhất nước Đức, đã thông báo ý định áp dụng thu học phí đối với sinh viên từ các nước ngoài Liên minh châu Âu. Hiện vẫn chưa rõ chương trình này sẽ triển khai thế nào, liệu các liên bang khác sẽ làm theo hay không, và sẽ tác động thế nào đến nỗ lực quốc tế hóa của ngành giáo dục đại học. Nhưng có một điều rõ ràng là các trường đại học chỉ có thể theo đuổi một chiến lược quốc tế hóa rõ ràng nếu họ được nhiều quyền tự quyết hơn trong các vấn đề quốc tế – từ tuyển sinh và tuyển dụng nhân viên đến phân bổ nguồn lực.