Mất cân bằng trong dịch chuyển sinh viên ở Ấn Độ: vấn đề đáng lo ngại

Rashim Wadhwa là giáo sư trợ giảng của School of Education, Central University of Kashmir, Srinagar, Ấn Độ. E-mail: nunha84@gmail.com.

Trong suốt thập kỷ qua, giáo dục trên toàn thế giới đã trải qua những thay đổi lớn lao, từ việc mở rộng thị trường trong nước đến quốc tế hóa. Theo thời gian, đã có những cải tổ mạnh mẽ trong các hệ thống giáo dục, thúc đẩy giáo dục đại học đạt đến tầm quốc tế, đảm bảo lợi ích kinh tế trên toàn cầu, kể cả ở Ấn Độ. Quốc tế hóa được nhìn nhận là một nội dung ưu tiên, đặc biệt là trong các chính sách giáo dục gần đây. Các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ đang phải đối mặt với những câu hỏi quan trọng như làm thế nào để tăng số lượng sinh viên quốc tế trong nước và làm thế nào để xuất khẩu các dịch vụ giáo dục. Trong bối cảnh đó, vấn đề nổi bật là sự mất cân bằng giữa số lượng sinh viên Ấn độ đi du học và sinh viên quốc tế đến Ấn độ, cùng một số thách thức khác.Hiện nay, toàn thế giới có hơn 5 triệu sinh viên đang học tập ở nước ngoài, trong đó Ấn Độ có một tỷ lệ trao đổi sinh viên rất lớn. Số sinh viên Ấn Độ ra nước ngoài học tập đã tăng từ 55.500 năm 1999 lên khoảng 255.000 vào năm 2016. Dự báo đến năm 2024 sẽ có 400.000 sinh viên Ấn Độ sẽ rời khỏi đất nước để đến học tại các trường đại học nước ngoài. Con số ngày càng tăng này cho thấy Ấn Độ, xếp thứ hai sau Trung Quốc trong việc gửi sinh viên đi, đã trở thành một nước đóng vai trò chủ đạo trên thị trường sinh viên quốc tế. Mặc dù những nước có đông sinh viên Ấn Độ đến học không thay đổi qua nhiều năm, nhưng những thay đổi phức tạp khác đang diễn ra, khi các nước khác bắt đầu nhập cuộc chơi này.

Ngược lại với sự gia tăng ổn định trong trào lưu sinh viên đi du học, số lượng sinh viên quốc tế đến Ấn Độ từ năm 1986 tăng giảm thất thường, và mức tăng tổng thể làm nản lòng mọi người. Năm 1986, số sinh viên quốc tế ở Ấn Độ là 10.900, tăng lên 13.700 vào năm 1993. Sau đó, con số bắt đầu giảm và xuống đến mức thấp nhất trong lịch sử là 5300 sinh viên vào năm 1998. Kể từ đó, số lượng sinh viên đến lại tăng lên, đạt 30.400 trong năm 2014. Chỉ một số quốc gia có sinh viên đến học tập ở Ấn độ: phần lớn họ đến từ các nước đang phát triển, với một tỷ lệ nhỏ từ các nước phát triển. Khoảng 60% sinh viên của nhóm thứ nhất đến từ các nước Nam Á, đứng đầu danh sách là Nepal (6000), tiếp theo là Afghanistan (3850) và Bhutan (1200). Trong số các trường đại học ở Ấn Độ tuyển sinh viên quốc tế, đại học Manipal có số lượng lớn nhất (2740), tiếp đến là trường Đại học Pune .

Sinh viên đến so với sinh viên đi

Sinh viên quốc tế chỉ chiếm 0,6% tổng số sinh viên đại học ở Ấn Độ, trong khi con số tương ứng là 1,0% ở Trung Quốc, 3,7% ở Mỹ, 19% ở Anh và 21,4% ở Úc. Trong bối cảnh này, tỷ lệ sinh viên quốc tế đến Ấn độ và sinh viên Ấn độ đi học tập ở nước ngoài là 1:10 và là một thách thức rất lớn: không chỉ nguồn nhân lực, mà còn một khoản doanh thu đáng kể đang chảy ra khỏi Ấn Độ.

Mất nguồn nhân lực và doanh thu

Mặc dù giáo dục đại học ở Ấn Độ phát triển không kém nhiều nước khác, nhưng thương mại liên quan đến dịch vụ giáo dục dường như còn hạn chế. Tổng giá trị nhập khẩu (tiền trả cho các nước khác) cho dịch vụ giáo dục tăng từ 61 triệu USD vào niên khóa 1999-2000 lên đến 2,6 tỷ USD vào niên khóa 2016-2017. Con số này dự báo sẽ tiếp tục tăng, căn cứ vào số lượng sinh viên Ấn Độ ra nước ngoài học đại học vẫn tăng lên. Ngược lại, tổng giá trị xuất khẩu (tiền thu về) cho dịch vụ giáo dục chỉ là 504 triệu USD trong niên khóa 2016-2017, một dấu hiệu rõ ràng về sự mất cân đối giữa dòng tiền vào và ra khỏi đất nước.

Số sinh viên Ấn Độ ra nước ngoài học tập đã tăng từ 55.500 năm 1999 lên khoảng 255.000 vào năm 2016.

Về dòng chảy của nguồn nhân lực, điều đáng chú ý lànhững sinh viên tốt nghiệp các trường có uy tín như Học viện Công nghệ Ấn Độ (IIT) hoặc Học viện Quản lý Ấn Độ (IIM) theo đuổi bằng cấp cao hơn ở nước ngoài có tỷ lệ trở về rất thấp, đặc biệt khi so sánh với các nhóm tương tự ở các nước khác. Trong thực tế, công dân Ấn Độ là nhóm quốc tịch lớn nhất có thị thực lao động chuyên môn ở Mỹ (H-1B), chiếm tới 59% tổng số toàn cầu. Thật không may, có rất ít các câu chuyện thành công liên quan đến sinh viên tốt nghiệp trở về gây dựng sự nghiệp của họ ở Ấn Độ.

Những quan ngại và một số giải pháp

Nếu Ấn Độ muốn khôi phục vị thế của mình trên trường giáo dục đại học quốc tế, các nhà hoạch định chính sách cần giải quyết những vấn đề sau đây. Có một khoảng cách đáng kể giữa xuất khẩu và nhập khẩu các dịch vụ giáo dục, hậu quả của sự mất cân bằng giữa số lượng sinh viên Ấn độ đi du học và sinh viên quốc tế đến Ấn độ. Để tiếp cận thị trường giáo dục đại học quốc tế, Ấn Độ đã phải viện đến xuất khẩu dịch vụ giáo dục thông qua các chương trình giáo dục từ xa, và xây dựng nền tảng giáo dục chủ yếu nhắm vào sinh viên đến từ các nước đang phát triển. Do chi phí giáo dục đại học ở Ấn Độ thấp hơn các nước phát triển, Ấn Độ có lợi thế lớn trong khía cạnh này.

Để thu hút nhiều sinh viên quốc tế hơn, Ấn độ cần thiết lập các khu vực giáo dục đặc biệt. Ấn Độ nên tập trung phát triển mô hình đặc biệt này ở những vùng khác nhau hiện đang hoặc có tiềm năng hấp dẫn được số lượng lớn sinh viên quốc tế. Thực tế cho thấy sinh viên quốc tế ở Ấn Độ tập trung về một số thành phố và trường đại học nhất định: hiện đang dẫn đầu là thành phố Pune với 29,30% tổng số sinh viên quốc tế, Delhi với 20,48%, và Manipal với 12,78%. Có lẽ sẽ là một chiến lược tốt nếu củng cố cơ sở hạ tầng của những thành phố có tiềm năng phát triển thành các trung tâm giáo dục quốc tế xuất sắc.

Ấn Độ cũng nên kéo giảm số lượng sinh viên đi du học – điều này tương ứng với việc nhập khẩu các dịch vụ giáo dục. Mặc dù Ấn Độ đã tăng cường đáng kể năng lực giáo dục đại học về khoa học và công nghệ, vẫn có rất ít cơ sở giáo dục đại học chất lượng tốt trong các lĩnh vực nghiên cứu khác. Các cơ sở IIT và IIM có tính cạnh tranh cao, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu địa phương. Thiếu các cơ sở giáo dục có chất lượng dẫn đến sự mất cân bằng giữa dòng sinh viên đi du học và dòng sinh viên quốc tế đến Ấn độ. Hơn nữa, các trường nhóm hai và nhóm ba có sự khác biệt lớn về chất lượng. Đã đến lúc khôi phục chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học nếu Ấn Độ muốn thu hút nhiều sinh viên quốc tế hơn. Đối với các cơ sở đang hoạt động kém hiệu quả cách tốt nhất để cải thiện chất lượng là sao chép cấu trúc và chiến lược của các trường đại học hàng đầu Ấn Độ. Điều này cần bắt đầu bằng một loạt cải tiến với các trường thuộc nhóm hai, sau đó hỗ trợ các trường thuộc nhóm ba theo cách tương tự. Như vậy cơ chế duy trì chất lượng bền vững, năng động sẽ thay đổi được lĩnh vực giáo dục đại học.