Biểu đồ quốc tế hóa các trường đại học Hoa Kỳ

Lucia Brajkovic là chuyên gia nghiên cứu cấp cao, Robin Matross Helms là giám đốc quốc tế hóa và liên kết toàn cầu tại Hội đồng Giáo dục Hoa Kỳ. E-mail: lbrajkovic@acenet.edu và rmhelms@acenet.edu.

Là một dự án nghiên cứu tiêu biểu của Trung tâm Quốc tế hóa và Liên kết Toàn cầu (CIGE) thuộc Hội đồng Giáo dục Hoa Kỳ (ACE), nghiên cứu Biểu đồ quốc tế hóa các trường đại học Hoa Kỳ cứ 5 năm lại đánh giá tình trạng quốc tế hoá tại các trường cao đẳng và đại học Hoa Kỳ, phân tích tiến độ và xu hướng của cả giai đoạn và xác định các ưu tiên trong tương lai. Khảo sát Biểu đồ năm 2016 – giống như ba kỳ trước đó – đề cập đến sáu lĩnh vực chính trong mô hình Quốc tế hóa Toàn diện của CIGE: cam kết rõ ràng; cơ cấu hành chính và nhân sự; chương trình giảng dạy, chương trình chuyên đề ứng dụng và kết quả học tập; chính sách giảng viên và thực tiễn; sự dịch chuyển của sinh viên; hợp tác và quan hệ đối tác. Bài viết này dựa trên một báo cáo dài hơn, hiện có tại www.acenet.edu/mapping.

Những phát hiện chính từ Khảo sát Biểu đồ năm 2016

Cũng như nghiên cứu năm 2011 và các kỳ khảo sát trước đó, bức tranh cuối cùng được vẽ bằng dữ liệu Biểu đồ năm 2016 là một cảnh quan phức tạp – có hứa hẹn ở một số khu vực, tiến độ chậm hơn (hoặc không đáng kể) ở các khu vực khác, và một số thay đổi đáng chú ý trong các xu hướng và các ưu tiên rộng hơn. Nhìn chung, 5 năm vừa qua quốc tế hóa đã nhận được sự hỗ trợ về mặt thể chế rất lớn, cả trong phương diện cơ cấu hành chính, nhân sự và các nguồn lực tài chính. Cam kết quốc tế hóa trong các tuyên bố sứ mệnh và kế hoạch chiến lược đã trở nên phổ biến hơn, và ngày càng được hỗ trợ bởi các chính sách cụ thể và chương trình hiện thực hóa các ý tưởng to lớn. Đặc biệt, các trường với chương trình đào tạo hai năm đã có những bước tiến đáng chú ý trong một số lĩnh vực, trong khi các trường đào tạo tiến sĩ dường như vẫn không đạt được tiến bộ nào trong các khía cạnh nhất định của quốc tế hoá.

Mặc dù phần lớn dữ liệu trong các trụ cột riêng biệt của Mô hình Quốc tế hóa toàn diện của CIGE là đáng khích lệ, so sánh tỷ lệ phần trăm trên tổng số các danh mục cho thấy đối với nhiều trường, nỗ lực quốc tế hóa vẫn tập trung trước hết vào hoạt động bên ngoài; sự dịch chuyển sinh viên theo cả hai chiều và quan hệ đối tác quốc tế được xác định là ưu tiên hàng đầu. Trái lại, nỗ lực quốc tế hóa bên trong các trường đại học bị cho là ít quan trọng hơn; quốc tế hóa chương trình giảng dạy/chương trình chuyên đề ứng dụng và phát triển chuyên môn cho giảng viên lần lượt đứng thứ 4 và thứ 5 trong các ưu tiên của quốc tế hóa. Mặc dù năm 2016 cho thấy có sự tiến bộ trong kết quả học tập của sinh viên và các yêu cầu học thuật, nhưng chỉ khoảng một nửa các trường báo cáo những nỗ lực tích cực nhằm hướng tới quốc tế hoá chương trình giảng dạy. Trong giai đoạn này, chính sách và hoạt động hỗ trợ giảng viên ít có sự tiến bộ rõ rệt so với nhiều lĩnh vực khác, và việc ghi nhận đóng góp của giảng viên vào quá trình quốc tế hóa cũng là vấn đề cần quan tâm trong thời gian tới.

Nỗ lực quốc tế hóa định hướng vào cách hoạt động bên ngoài tạo thành vấn đề bởi vì nó bỏ qua cốt lõi của một tổ chức học thuật. Trọng tâm của giáo dục đại học chính là việc học tập của sinh viên, và với đa số sinh viên Hoa Kỳ không dịch chuyển quốc tế – cũng như sinh viên quốc tế từ khắp nơi trên thế giới đang học tập trong các trường đại học Hoa Kỳ – trọng tâm phải là chương trình giảng dạy tại trường và chương trình chuyên đề ứng dụng. Là nhân tố chính thúc đẩy giảng dạy và nghiên cứu, giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc học tập của sinh viên; để sinh viên đạt được các mục tiêu học tập toàn cầu, các giảng viên tự họ phải có năng lực toàn cầu, có thể chuyển tải kinh nghiệm và chuyên môn quốc tế của mình vào trong lớp học, chuẩn bị tốt để thu hút được sinh viên quốc tế và cam kết tích cực vào nỗ lực quốc tế hóa.

Không phải ngẫu nhiên mà “chương trình giảng dạy, chương trình chuyên đề ứng dụng và kết quả học tập của sinh viên” và “chính sách giảng viên và thực tiễn” là hai trụ cột chính của mô hình Quốc tế hóa Toàn diện của CIGE. Vị trí chính cho thấy tầm quan trọng của chúng; chú trọng đến các lĩnh vực này là vô cùng quan trọng để quốc tế hóa thâm nhập vào mọi lĩnh vực trong các trường cao đẳng và đại học thay vì duy trì ở vị trí ngoại biên. Là hoạt động cốt lõi, chúng được coi là khó thay đổi nhất; tuy nhiên, để thúc đẩy phát triển cần có sự đầu tư nhiều hơn cả tài lực và vật lực, nếu các tổ chức mong muốn quốc tế hóa trường đại học sâu hơn, toàn diện hơn.

Nhìn chung, 5 năm vừa qua quốc tế hóa đã nhận được sự hỗ trợ về mặt thể chế rất lớn, cả trong phương diện cơ cấu hành chính, nhân sự và các nguồn lực tài chính.

Tương lai của quốc tế hóa ở Hoa Kỳ

Khi nhìn về tương lai của quốc tế hóa, chúng ta không thể bỏ qua sự phát triển chính trị của Hoa Kỳ vào đầu năm 2017. Cuộc khảo sát Biểu đồ kết thúc vào tháng 12 năm 2016, sau cuộc bầu cử Tổng thống Donald Trump nhưng trước khi ông nhậm chức. Trong thời gian bài viết này đang được thực hiện, chính quyền Trump đã ban hành một loạt các sắc lệnh hành pháp và tuyên bố các chính sách liên quan đến nhập cư và quan hệ ngoại giao trong tương lai có thể sẽ ảnh hưởng đáng kể đến sự dịch chuyển của sinh viên – là khía cạnh quốc tế hóa được các dữ liệu mô tả rõ ràng như ưu tiên hàng đầu đối với các trường cao đẳng và đại học ở Hoa Kỳ.

Trong bức thư của ACE và 46 hiệp hội giáo dục đại học Hoa Kỳ gửi Bộ trưởng Bộ An ninh Nội địa để đáp lại sắc lệnh hành pháp tháng 1 năm 2017 có tiêu đề “Ngăn chặn những kẻ khủng bố nhập cảnh vào Hoa Kỳ để bảo vệ quốc gia”, chủ tịch ACE, bà Molly Corbett Broad nói rõ “Chúng tôi lo ngại rằng hiệu ứng răn đe của sắc lệnh này sẽ khiến sinh viên và học giả quốc tế khó có thể tiếp tục xem Hoa Kỳ như một nơi chào đón họ đến học tập và nghiên cứu”. “Hiệu ứng răn đe” này cũng là yếu tố chính trong các lập luận của tòa án để cuối cùng giữ nguyên sắc lệnh hành pháp ban đầu.

Mặc dù các báo cáo không chính thức từ các trường đại học Hoa Kỳ, cũng như các nguồn tin từ nước ngoài cho thấy môi trường chính trị hiện tại thực sự là yếu tố quyết định để sinh viên lựa chọn nơi học tập, nhưng mức độ tác động lâu dài đến số lượng du học sinh – và nỗ lực quốc tế hoá rộng hơn – vẫn rất khó dự đoán. Câu trả lời chắc chắn sẽ khác nhau tùy thuộc vào mỗi trường và mỗi ngành.

Tại cuộc họp gần đây của Nhóm nghiên cứu của Phòng thí nghiệm quốc tế hóa thuộc ACE – một chương trình kéo dài 18 tháng nhằm hướng dẫn các trường thông qua quá trình hoạch định chiến lược quốc tế hóa, một số người tham gia đã mô tả tình hình chung của quốc tế hóa là “làm nản lòng”; tuy nhiên, những người khác lại coi đây là thời điểm “kích hoạt” – để tái tập trung và thúc đẩy tiến về phía trước. Do những rào cản trong chính sách mới và bầu không khí chính trị hiện tại, một số trường cao đẳng và đại học có thể thực sự quay lưng với các hoạt động quốc tế hóa. Tuy nhiên, những trường khác theo đà vẫn tiếp tục tiến về phía trước, có lẽ là với các hoạt động và trọng tâm khác đi.

Thay vì trực tiếp tuyển sinh quốc tế, ví dụ, một số trường có thể tăng cường các mối quan hệ với các đối tác quốc tế như một cách thức tạo điều kiện cho sinh viên du học. Những trường khác có thể phát triển chương trình học thuật mới cho sinh viên ở nước ngoài, hoặc tăng cường năng lực của họ trong hợp tác giảng dạy và nghiên cứu. Một số trường có thể hướng trọng tâm quốc tế hóa vào bên trong, dành nhiều hơn sự quan tâm và các nguồn lực cho các sáng kiến phát triển chương trình giảng dạy, chương trình ứng dụng và giảng viên trong trường – đó chính xác là những gì cần làm, như đã đề cập trước đó, để thúc đẩy tiến trình quốc tế hóa toàn diện theo cách mà định hướng bên ngoài sẽ không cho phép.

Bất kể thay đổi nào diễn ra trong chính trị và chính sách, bài học tổng thể rút ra được từ nghiên cứu Biểu đồ là: sẽ luôn có những thách thức đối với quốc tế hóa, nhưng cũng luôn có những cơ hội. Chỉ thời gian – và kết quả Khảo sát Biểu đồ Quốc tế hóa năm 2021 các Trường đại học Hoa Kỳ – mới cho thấy tác động của cuộc tranh luận chính trị hiện tại, và cách mà hành trình quốc tế hóa sẽ diễn ra trong các trường cao đẳng và đại học của Hoa Kỳ trong những năm tới.