Toàn cảnh thay đổi của nghiên cứu giáo dục quốc tế

Douglas Proctor

Douglas Proctor là nghiên cứu sinh tiến sỹ về giáo dục đại học quốc tế tại Đại học Melbourne, Úc. E-mail: douglas-proctor@ieaa.org.au. Báo cáo đầy đủ phân tích số liệu 2011-2013 lấy nguồn từ cơ sở dữ liệu IDP Nghiên cứu về Giáo dục Quốc tế. Bài giới thiệu kèm theo minh hoạ các xu hướng chính giai đoạn 2011- 2014 có thể truy cập được trên website của Mạng lưới Nghiên cứu Giáo dục Quốc tế www.ieaa.org.au/iern.

Trong bối cảnh không đồng đều của giáo dục đại học thế giới, không có gì ngạc nhiên rằng nghiên cứu về giáo dục đại học quốc tế cũng có địa hình lồi lõm. Tuy nhiên điều đáng lo ngại là ở chỗ phần lớn lãnh địa nghiên cứu giáo dục quốc tế vẫn chưa được định hình.

Phân tích mới đây từ cơ sở dữ liệu IDP Nghiên cứu về Giáo dục Quốc tế (Úc) cho thấy đa số các nghiên cứu về giáo dục quốc tế tập trung vào khu vực thế giới nói tiếng Anh – với trên 53% các công trình công bố trong các năm 2011-2013 là về các nước nói tiếng Anh. Và hầu hết các công trình nghiên cứu công bố là trong lĩnh vực giáo dục đại học/sau trung học, mặc dầu giáo dục quốc tế không chỉ bao gồm đại học/sau trung học. Các công trình nghiên cứu cũng tập trung chủ yếu vào sinh viên. Trong khi đó giảng viên, những người đào tạo sinh viên; các ngành công nghiệp, các khu vực kinh tế sẽ tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp; xu hướng quốc tế hoá của các trường đại học chưa giành được sự quan tâm thích đáng.

Báo cáo phân tích này  cũng  đối  chiếu  với kết luận do Trung tâm Giáo dục đại học quốc tế Boston College (CIHE) công bố năm 2014. Đó là kết quả khảo sát toàn cầu lần thứ 3 đối với các tổ chức học thuật, các chương trình đào tạo, các trung tâm nghiên cứu giáo dục đại học. Các số liệu đều cho thấy các nghiên cứu về giáo dục quốc tế chỉ tập trung vào một số ít quốc gia và số ít các chủ đề. Bức tranh nghiên cứu giáo dục quốc tế hiện ra không đồng đều, với những khu vực hoang vắng hệt như toàn cảnh nền giáo dục quốc tế.

Thu thập dữ liệu

Báo cáo này dựa vào cơ sở dữ liệu IDP Nghiên cứu về Giáo dục Quốc tế chứa đựng 13.300 cuốn sách, bài báo, bài đăng hội nghị và báo cáo về các khía cạnh khác nhau của giáo dục quốc tế từ khắp nơi trên thế giới. Một phần dự án do Hiệp hội Giáo dục Quốc tế Úc – thuộc mạng lưới Nghiên cứu Giáo dục Quốc tế – phụ trách, phân tích chi tiết 2.511 bản ghi cơ sở dữ liệu liên quan đến các nghiên cứu công bố trong các năm 2011, 2012 và 2013.

Trong bối cảnh không đồng đều của giáo dục đại học thế giới, không có gì ngạc nhiên rằng nghiên cứu về giáo dục đại học quốc tế cũng có địa hình lồi lõm.

Đương nhiên, cần có sự thận trọng nhất định khi sử dụng báo cáo phân tích này. Do xuất xứ và nguồn gốc tài trợ, chất liệu về Úc chiếm đa số trong Cơ sở dữ liệu Nghiên cứu Giáo dục Quốc tế. Tuy thế, cơ sở dữ liệu luôn tham chiếu các công trình nghiên cứu công bố ở các quốc gia khác và số lượng các nghiên cứu ngoài Úc tăng đều theo thời gian. Như đã nói, hiện tại chỉ các tư liệu bằng tiếng Anh được tham chiếu.

Những phát hiện sau đây dựa trên một phân tích chi tiết các bản ghi cơ sở dữ liệu, bao gồm các từ khóa hoặc cụm từ, quốc gia được nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các loại ấn phẩm. Trừ những trường hợp đặc biệt, dữ liệu được trình bày ở dạng tổng hợp ba năm liền.

Các phát hiện chính

Có 3.831 từ khoá khác nhau được ghi nhận trong các nghiên cứu công bố vào các năm từ 2011 đến 2013 – trung bình 7,3 từ khoá cho mỗi công bố. Dù rằng 63% các từ khoá này chỉ được sử dụng mộthoặc hai lần, phân tích về các từ khoá được dùng nhiều nhất sẽ cho biết về các chủ đề nóng nhất và xu hướng nghiên cứu dịch chuyển theo thời gian. Theo đó, căn cứ vào 21 từ khoá và cụm từ được sử dụng trên 200 lần, có thể thấy rằng các nghiên cứu tập trung nhiều nhất vào “sinh viên quốc tế ở cấp đại học/sau trung học”, tiếp theo là “quốc tế hoá”, “du học” và “tính di động của sinh viên” (trong nước). Các từ khoá đó được sử dụng tăng dần sau mỗi năm, ngược lại một số từ khoá trước đây rất nóng lại giảm dần (như “thị trường giáo dục” và “khác biệt văn hoá”). Một số từ khoá có tần suất sử dụng tăng lên theo thời gian, gồm “chính sách giáo dục”, “thái độ sinh viên”, “toàn cầu hoá” và “trải nghiệm sinh viên”.

Về mặt địa lý, mỗi mục dữ liệu đều được xác định quốc gia hoặc vùng lãnh thổ liên quan đến chủ đề nghiên cứu (không nhất thiết là chính quốc của người nghiên cứu, tuy rằng có thể thấy mối liên quan). Thống kê được 142 quốc gia/vùng lãnh thổ khác nhau từ cơ sở dữ liệu 3 năm 2011-2013. Trong số đó, 35% chỉ xuất hiện một lần, 6 tên quốc gia/ vùng lãnh thổ xuất hiện nhiều nhất (gồm Úc, Hoa Kỳ, Anh, Trung quốc, châu Âu và Canada) được ghi nhận trên 100 lần mỗi tên. Phân tích qua các năm trong số 6 tên quốc gia/vùng lãnh thổ này, Hoa Kỳ và Anh tăng dần sự xuất hiện, còn Úc giảm dần. Một phần là do sự tăng dần các nghiên cứu ngoài Úc được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu. Các tên Trung quốc, châu Âu và Canada gần như không tăng/giảm.

Về khu vực, 23,9% các nghiên cứu là về châu Á hoặc một quốc gia ở châu Á. Kế đến, 28,2% là về châu Đại dương. Theo sau đó là châu Âu (21,2%) và Bắc Mỹ (16,8%). Các châu lục còn lại có tỷ lệ rất thấp. Dưới 10% cho toàn bộ châu Phi, Trung Đông, Nam Mỹ và vùng Caribbean.

Về phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng đều được áp dụng. Nghiên cứu tình huống (Case study) và phỏng vấn là các phương pháp được dùng nhiều nhất (tương ứng 20,6% và 17,6% tổng số hồ sơ); tuy nhiên, khi gộp chung lại, các phương pháp nghiên cứu định lượng – bao gồm khảo sát, bảng câu hỏi và phân tích thống kê – chiếm tỷ trọng lớn nhất, 26,5%. Càng về sau tỷ lệ áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng cũng như phỏng vấn giảm dần, phương pháp nghiên cứu tình huống và phân tích so sánh trở thành phổ biến trong giai đoạn giữa năm 2012-2013.

Liên quan đến thể loại công bố, được chọn nhiều nhất là bài đăng tạp chí, chiếm 49,3% trong tổng số công trình nghiên cứu. Tiếp theo là chương sách (16,3%) và báo cáo khoa học (15,1%). Qua các năm, bài đăng tạp chí có xu hướng tăng, các thể loại công bố  khác  không thay đổi hoặc giảm bớt.

Bản chất liên ngành của nghiên cứu giáo dục, phạm vi các công bố của nghiên cứu giáo dục quốc tế rất rộng – 420 tạp chí, 199 nhà xuất bản. Các tạp chí hàng đầu có Journal of Studies in International Education, Journal of Higher Education Policy and Management, Higher Education and International Higher Education (Boston College CIHE) và NAFSA’s International Educator Magazine.  Về sách xuất bản, Institute of International Education đứng đầu với 6 cuốn. Britisch Council, Institute of International Education và các cơ quan chính phủ Úc cũng tham gia với số lượng lớn các báo cáo khoa học.

Kết luận

Thu thập dữ liệu so sánh từ các trung tâm và chương trình nghiên cứu giáo dục đại học quốc tế là một công việc phức tạp, có một bức tranh hoàn chỉnh toàn cảnh nghiên cứu giáo dục quốc tế còn khó hơn nhiều. Mặc dù phân tích dữ liệu từ cơ sở dữ liệu IDP Nghiên cứu về Giáo dục Quốc tế là một điểm khởi đầu hữu ích, những nét phác thảo này có thể không hoàn toàn chính xác do bản chất thiên lệch, thiếu đầy đủ của cơ sở dữ liệu.

Dẫu vậy, bài phân tích này cho thấy quy mô nghiên cứu giáo dục quốc tế trong vài năm gần đây và cho phép rút ra kết luận về các xu hướng của chủ đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và thể loại nghiên cứu được công bố. Các phát hiện cho thấy sự không đồng đều của bức tranh toàn cảnh nghiên cứu giáo dục quốc tế. Cho dù bức tranh tương lai của lĩnh vực này đang còn dở dang, việc phân tích thêm dữ liệu 2014 có thể xác định xu hướng thay đổi của toàn cảnh nghiên cứu giáo dục quốc tế.