Những thách thức trong việc trao đổi sinh viên ở Đông Nam Á

Thu T. Do and Duy N.Pham

Thu T. Do là nghiên cứu sinh tiến sĩ quản lý giáo dục, Đại học Saint Louis. E-mail: tdo10@slu.edu. Duy N. Pham là nghiên cứu sinh tiến sĩ về nghiên cứu, đo lường và tâm lý giáo dục, Đại học Massachusetts-Amherst. E-mail: dpham@umass.edu.

Bị ảnh hưởng bởi xu thế toàn cầu hóa đầu thế kỷ 21, Đông Nam Á đang là khu vực có những thay đổi ấn tượng trong trao đổi sinh viên quốc tế: số sinh viên Đông Nam Á đi học nước ngoài tăng đáng kể, số sinh viên ngoại quốc tốt nghiệp ở các nước Đông Nam Á cũng đang tăng dần. Khi lợi ích từ các chương trình trao đổi sinh viên quốc tế đã trở nên rõ ràng, các nước Đông Nam Á cũng đối đầu với các thách thức trong chiến lược phát triển tiếp theo.

Những thay đổi gần đây

Các nước Đông  Nam Á nằm trong nhóm Top 25 nước có sinh viên đang theo học tại Mỹ, gồm Việt Nam (8), Indonesia (9), Thái Lan (20) và Malaysia (24). Đến năm 2011, nếu kể cả Philippines, có 214 ngàn sinh viên ở khu vực này đang học ở Mỹ, Anh và Úc. Số sinh viên trao đổi tăng mạnh còn là kết quả của các chương trình hợp tác dạng liên kết hoặc cấp bằng đôi. Hiện có 25 campus đại học nước ngoài tại Đông Nam Á: 1 ở Indonesia, 6 ở Malaysia, 13 ở Singapore, 3 ở Thái Lan và 2 ở Việt Nam.

Đông Nam Á không chỉ gửi sinh viên đi học mà còn phát triển hệ thống đào tạo của mình để thu hút sinh viên quốc tế. Sử dụng tiếng Anh, học phí và chi phí sinh hoạt thấp đang là những điểm hấp dẫn đối với thị trường toàn cầu. Các nước đi đầu như Singapore và Malaysia đang trở thành trung tâm đào tạo của khu vực và thực tế đã trở thành các nước xuất khẩu giáo dục. Theo tờ Guardian, năm 2014, Singapore chào đón 52.959 sinh viên từ 120 nước, Malaysia có 63.625 sinh viên từ 160 nước theo học. Singapore và Malaysia lọt vào tốp 20 quốc gia thu hút sinh viên du học đông nhất. Đa phần sinh viên đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á khác.

Dòng sinh viên quốc tế từ các nước phương Tây sang Đông Nam Á – dù chưa đông (khoảng 5 ngàn) – nhưng đang tăng dần trong các năm gần đây. Các sinh viên này chủ yếu đến từ Mỹ, Anh, Úc và đến học tại các nước đã phát triển hoặc mới nổi ở Đông Nam Á như Malaysia, Philippine, Singapore và Thái  Lan. Đông Nam Á cũng thu hút sinh viên từ khu vực Trung Đông như Các tiểu vương Arập thống nhất, Oman, Ye men, Arập Saudi và Lebanon. Sau sự kiện 11/9, khi Mỹ hạn chế cấp visa cho các nước Trung Đông, dòng sinh viên từ khu vực này sang Đông Nam Á bắt đầu tăng. Iran chiếm 21,44% trong tổng số 61 ngàn sinh viên quốc tế đang học tại Philippines. Malaysia cũng đang quảng bá tuyển sinh rộng rãi tại Trung Đông.

Thách thức

Những kết quả nêu trên là bằng chứng về chính sách đúng đắn của chính phủ và các trường đại học trong việc quốc tế hóa thị trường giáo dục. Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á đang đối mặt với những thách thức gây trở ngại cho các ưu thế đang có trong các chương trình phát triển sinh viên quốc tế.

Vị thế chầu rìa của các nước Đông Nam Á trong công nghiệp tạo tri thức là thách thức lớn nhất và là thách thức mang tính cốt lõi. Thực tế chỉ một số ít các nước Đông Nam Á tham gia tạo lập các tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến. Trong số 500 trường đại học nghiên cứu đứng đầu bảng xếp hạng thế giới, Đông Nam Á chỉ có 2 trường và đều ở Singapore. Do bảng xếp hạng đánh giá dựa trên hiệu quả nghiên cứu và số các giải thưởng lớn dành cho các nghiên cứu nổi bật, thứ hạng của Đông Nam Á chứng tỏ các trường đại học khu vực này đang đứng ngoài rìa việc tham gia tạo lập trí thức và mở mang bờ cõi trí tuệ.

Chính vị thế yếu về nghiên cứu phát triển làm cho các trường trong khu vực kém hấp dẫn với các sinh viên quốc tế. Ví dụ sinh viên các nước Đông Nam Á ít khi đến các nước trong khu vực để du học hoặc thậm chí chỉ là để tham gia các chương trình trao đổi sinh viên. Thay cho việc chọn du học tại các nước trong khu vực, các gia đình khá giả tại Việt Nam, Indonesia, Malaysia thường chọn gửi con đi học tại các nước nói tiếng Anh ngoài khu vực. Đây là vấn đề các trường đại học Đông Nam Á gặp phải khi không có khả năng thu hút sinh viên giỏi hoặc sinh viên thuộc gia đình khá giả như các trường nước ngoài khác.

Các nước Đông Nam Á nằm trong nhóm Top 25 nước có sinh viên đang theo học tại Mỹ 

Chảy máu chất xám: trong vài thập kỷ gần đây, số liệu thống kê chỉ rõ đa số sinh viên chuyển từ Đông sang Tây, từ các nước không nói tiếng Anh sang các nước nói tiếng Anh. Không chỉ sinh viên mà các giáo sư giỏi cũng chạy từ Đông Nam Á sang Anh, Mỹ, Úc, Nhật. Tất nhiên mức độ chảy máu chất xám khác nhau ở các nước khác nhau, nhưng đều là thách thức với các nước khu vực này. Các nước đã phát triển như Singapore chẳng hạn, thì giữ được người giỏi không để họ chạy sang các nước phương Tây hoặc Nhật bản. Còn các nước có chất lượng đào tạo thấp thì vừa mất người vừa mất nguồn tài chính để tạo lập và phát triển các trường đẳng cấp, khi sinh viên và giảng viên giỏi của họ đi mất. Đa số sinh viên và giảng viên giỏi của Việt Nam học và làm việc tại nước ngoài. Ví dụ gần 100% học sinh các trường phổ thông tốt nhất ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đi du học đại học nước ngoài. Tương tự, đa số các học sinh đạt giải toán quốc tế đã đi du học và ở lại làm việc để phát triển sự nghiệp học thuật của mình.

Rào cản tiếng Anh: việc tiếng Anh không phải là ngôn ngữ chính thức trong việc giảng dạy và công bố tại nhiều nước là trở ngai lớn cho việc thu hút sinh viên quốc tế và tham gia vào cộng động khoa học rộng hơn. Ngoại trừ Singapore, Philippines và Thái Lan, đa số các trường ở các nước khác có rất ít khóa học bằng tiếng Anh. Đây cũng là một lý do mà số sinh viên nước ngoài đến học còn ít, kể cả theo dạng trao đổi sinh viên. Nếu như nỗ lực tạo thêm nhiều khóa học bằng tiếng Anh với học phí phù hợp không thành công, các trường đại học nơi tiếng Anh không phải là ngôn ngữ giảng dạy sẽ không trở thành điểm thu hút nhiều sinh viên quốc tế.

Các nước Đông Nam Á cần nhận thức được những thách thức trên, hoạch định chính sách để vượt qua các thách thức, khắc phục, hạn chế các ảnh hưởng xấu, cải thiện chất lượng và hiệu quả giáo dục. Đây là con đường phát triển nâng cao tầm đại học và góp phần phát triển xã hội.