Hệ thống giáo dục đại học tốt của quốc gia – các bài học từ Bảng xếp hạng U21

Ross Williams

Ross Williams là giáo sư nghiên cứu cao cấp tại Viện Ứng dụng Kinh tế và Nghiên cứu Xã hội, Đại học Melbourne, Victoria, Úc, 3101. Ông chủ trì dự án xếp hạng Universitas 21 (U21), chi tiết có thể xem tại www.universitas21.com, Email: rossaw@unimelb.edu.au.

Xét như một hệ thống tổng thể, bản chất và chất lượng của hệ thống giáo dục đại học không chỉ thể hiện trong việc tăng cường các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu, mà còn liên quan đến việc phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của quốc gia. Tuy nhiên, xếp hạng quốc tế của các trường đại học đang dựa nhiều vào hoạt động nghiên cứu, phần lớn bỏ qua giảng dạy và đào tạo, học bổng và ảnh hưởng cộng đồng. Các bảng xếp hạng đang ảnh hưởng đến hành vi của các trường đại học, đặc biệt là ở châu Âu, châu Á và châu Đại Dương, dẫn đến giảm tính đa dạng của các tổ chức giáo dục đại học.

Trong nỗ lực chuyển mối quan tâm từ xếp hạng các trường đại học sang xếp hạng hệ thống giáo dục đại học như một tổng thể, năm 2012 nhóm U21 của một số trường đại học đã tiến hành dự án định lượng hiệu suất của hệ thống giáo dục đại học từng quốc gia.

Phương pháp luận của bảng xếp hạng U21

Trong nỗ lực chuyển mối quan tâm từ xếp hạng các trường đại học sang xếp hạng hệ thống giáo dục đại học như một tổng thể, năm 2012 nhóm U21 của một số trường đại học đã tiến hành dự án định lượng hiệu suất của hệ thống giáo dục đại học từng quốc gia. Mức độ phủ là xem xét tất cả các trường cao đẳng đại học, là các trường cung cấp ít nhất một chương trình đào tạo hai năm cho đối tượng học xong phổ thông. Năm mươi quốc gia được xem xét với các mức thu nhập bình quân đầu người khác nhau, từ Indonesia và Ấn Độ nơi có thu nhập thấp đến các nước đã phát triển có thu nhập cao. Hiệu suất hệ thống giáo dục đại học được đánh giá bởi 25 chỉ tiêu và chia thành bốn nhóm: nguồn lực, môi trường chính sách, kết nối-tham gia và đầu ra. Chỉ số nguồn lực bao gồm chi phí tư nhân và nhà nước, cũng như phần trăm GDP chi cho đào tạo và chi phí trên đầu sinh viên. Các chỉ số môi trường chính sách bao gồm mức độ độc lập về tài chính và học thuật của các trường, sự đa dạng của các trường, việc giám sát thực thi các tiêu chuẩn và góc nhìn từ doanh nghiệp. Chỉ số kết nối được đo bằng số công trình công bố chung với các doanh nghiệp và với các đồng tác giả quốc tế, kết nối web, các cuộc khảo sát về ý kiến của doanh nghiệp và tầm quan trọng của các sinh viên ngoại quốc. Các chỉ số đầu ra bao gồm hiệu quả hoạt động nghiên cứu, tỷ lệ tham gia và vị thế của ba trường đại học hàng đầu quốc gia. Dữ liệu quốc tế hiện không đủ để so sánh chất lượng sinh viên tốt nghiệp, nhưng một chỉ tiêu thay thế để đánh giá mức độ đáp ứng của sinh viên tốt nghiệp so với mong đợi của cộng đồng là tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên khi ra trường.

Với mỗi một chỉ số, quốc gia thực hiện tốt nhất được cho điểm 100. Các chỉ số cụ thể của từng nước được chuẩn hóa theo thang điểm 100 này và xếp hạng theo bốn nhóm chỉ tiêu và sau đó tính điểm tổng hợp và xếp hạng tổng thể. Điểm số tổng được tính dựa trên 40% chỉ số đầu ra và 20% cho mỗi một chỉ tiêu khác. Hạn chế của bảng xếp hạng (không phải là điểm số) là không đủ tất cả các nước, điều đó có nghĩa là với các nước có hệ thống kém phát triển, thứ hạng này có thể được phóng đại.

Với mỗi một chỉ số, quốc gia thực hiện tốt nhất được cho điểm 100. Các chỉ số cụ thể của từng nước được chuẩn hóa theo thang điểm 100 này và xếp hạng theo bốn nhóm chỉ tiêu và sau đó tính điểm tổng hợp và xếp hạng tổng thể. Điểm số tổng được tính dựa trên 40% chỉ số đầu ra và 20% cho mỗi một chỉ tiêu khác. Hạn chế của bảng xếp hạng (không phải là điểm số) là không đủ tất cả các nước, điều đó có nghĩa là với các nước có hệ thống kém phát triển, thứ hạng này có thể được phóng đại.

Chính sách sử dụng các độ đo

Cũng giống như các bảng xếp hạng từng trường đại học, quan tâm của các phương tiện truyền thông chủ yếu tập trung vào các thứ hạng tổng thể. Tuy nhiên chính điểm số và thứ hạng cho các nhóm chỉ tiêu và các chỉ tiêu riêng biệt, cùng với các mối quan hệ giữa chúng – mới cung cấp thông tin cho việc hoạch định chính sách giáo dục đại học.

Bố trí nguồn lực phù hợp cùng với môi trường chính sách thuận lợi là việc cần thiết để có được hệ thống giáo dục đại học quốc gia chất lượng cao hơn. Các bài học có thể được rút ra từ việc xem xét các mối tương quan giữa chỉ số yếu tố đầu vào (nguồn lực và môi trường) và chỉ số kết quả cuối cùng (kết nối và đầu ra). Trong số các chỉ số đầu ra, tỷ lệ tham gia và trình độ dân chúng liên quan chặt chẽ với mức chi tiêu cho giáo dục, nhưng nó lại không bị ảnh hưởng rõ rệt bởi mức tài trợ là từ chính phủ (như ở các nước Bắc Âu) hay là chi phí tư nhân (như tại Hàn Quốc). Mặt khác, hoạt động nghiên cứu được gắn kết chặt với chi phí của các trường đại học về nghiên cứu và phát triển và tài trợ cho khoản này chủ yếu là từ chính phủ. Mức đo hiệu quả tổng hợp của hệ thống là so sánh thứ hạng của quốc gia về các chỉ tiêu đầu ra với các nguồn lực đầu vào. Để minh họa, hai quốc gia có thứ hạng hoạt động nghiên cứu cao hơn nhiều so với thứ hạng của nguồn lực là Vương quốc Anh và Trung Quốc. Ở cả hai nước, tài trợ nghiên cứu của chính phủ tập trung cho một số trường đại học được chọn lọc, cho thấy đây là một cách nhanh chóng để nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu. Khả năng kết nối cũng liên quan chặt chẽ với các nguồn lực.

Hội nhóm Quốc gia?

Sau bốn năm xếp hạng đã nổi bật lên một số xu hướng đáng chú ý. Hiện các chỉ số cho nhiều nước  đã cải thiện liên tục, do đó để giữ được thứ hạng thì một nước phải cải thiện nhanh hơn mức độ cải thiện trung bình. Có rất ít bằng chứng của việc tụ nhóm trong hệ thống giáo dục đại học các quốc gia trong vòng bốn năm. Sử dụng độ lệch chuẩn của các chỉ số như một chỉ tiêu do độ hội tụ, điểm số tổng thể có một sự gia tăng nhỏ trong phân kỳ và chỉ ở nhóm chỉ tiêu kết nối là có sự hội tụ. Kết quả nghiên cứu đã che giấu các biến động đáng kể đối với mỗi quốc gia. Các nước tăng tốt nhất là Trung Quốc và Nam Phi, Chile và Hungary cũng cải thiện được thứ hạng của họ. Các nước bị tụt hạng gồm Ukraine, Bulgaria, Serbia, Hy Lạp, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ. Trong một số chỉ tiêu cụ thể vài chỉ tiêu có mức độ hội tụ xác đáng, ví dụ như tỷ lệ tham gia và chi tiêu từ GDP cho giáo dục đại học.

Những hệ thống nào vận hành tốt nhất?

Như vậy, hệ thống giáo dục đại học quốc gia nào sẽ vận hành tốt nhất? Không có mô hình nào duy nhất chiếm ưu thế. Các nước Bắc Âu vận hành đại học tốt với một hệ thống hợp tác khá chặt chẽ giữa các trường đại học, chính phủ và doanh nghiệp, với đầu tư cao cho nghiên cứu và phát triển. Tương tự, Thụy Sĩ đặc biệt mạnh trong việc kết nối trong nước và quốc tế. Liệu mô hình này có thể áp dụng trong một nền kinh tế lớn nơi các mối giao tiếp phức tạp hơn không? Ở một phân khúc khác, hệ thống giáo dục đại học của Mỹ phân tán nhiều hơn, ít phụ thuộc vào nguồn tài trợ của chính phủ và lại đang được xếp hàng đầu về mặt tổng thể. Tuy nhiên, có một kết luận chặt chẽ được đưa từ các bảng xếp hạng: các hệ thống giáo dục đại học quốc gia tồi tệ nhất là ở những nước chính phủ kiểm soát chặt chẽ nhưng mức độ đầu tư từ ngân sách lại thấp.

Khi xây dựng chính sách quốc gia, các chính phủ nên xem xét các thuộc tính của những nước có cùng quy mô, có mức thu nhập tương tự và có hệ thống giáo dục đại học đang hoạt động tốt. Các thuộc tính của một hệ thống giáo dục đại học “tốt” phụ thuộc một phần vào mức thu nhập bình quân đầu người của quốc gia. Với các quốc gia có mức thu nhập thấp, cần tập trung vào giảng dạy và đào tạo, còn công việc nghiên cứu thì nên tập trung vào việc nhập khẩu và truyền lan những ý tưởng mới. Trong bảng xếp hạng phụ của U21, các quốc gia được đánh giá tương ứng với GDP bình quân đầu người. Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Phi tăng hạng lên đáng kể trong bảng xếp hạng sử dụng biện pháp này.

Mặt bên kia của đồng xu là xem làm thế nào các chỉ số như kết nối, mức chất lượng, chi tiêu cho nghiên cứu ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế. Sự khác biệt ở đây có thể là lớn và các câu trả lời là sẽ phải chờ đợi dữ liệu vài năm nữa. Lý tưởng nhất, bài toán này đòi hỏi đưa vào danh sách xếp hạng thêm nhiều nước có thu nhập thấp, nhưng khi đó cần có dữ liệu tốt hơn. ■