Giáo dục đại học quốc tế và “bước ngoặt tân khai phóng”

Peter Scott

Peter Scott là giáo sư về nghiên cứu giáo dục đại học,Viện Giáo dục- Đại học Luân Đôn, Anh quốc. Email: P.Scott@ioe.ac.uk.

Hình thức ban đầu của giáo dục đại học quốc tế – những hoạt động trao đổi sinh viên, giảng viên, sự hợp tác giữa các trường đại học vượt khỏi khuôn khổ quốc gia là một khía cạnh thể hiện tính lý tưởng, nhân văn của giáo dục đại học. Thời trước, các trường đại học hoàng gia của các đế quốc, gán cho mình sứ mệnh cao quý như các học giả huyền thoại lang thang thời Trung cổ, truyền bá một nền giáo dục đại học trong tầng lớp tinh hoa thuộc địa (đỉnh cao là thời kỳ hậu thuộc địa). Sau này, cũng theo cách như vậy, các hệ thống đại học hiện đại từ những quốc gia đó tham gia vào những dự án viện trợ, hỗ trợ xây dựng năng lực đào tạo, cũng như tiếp tục đào tạo cho giới tinh hoa của các nước đang phát triển. Giáo dục đại học quốc tế ngày nay đã không còn mang tính lý tưởng như vậy nữa, mà trái lại, gắn liền với thương mại và cạnh tranh thị trường. Tiếng nói của nó bị chi phối bởi thị phần sinh viên quốc tế và bảng xếp hạng toàn cầu. Rõ ràng rằng nhận thức cũng như thực tiễn về giáo dục đại học quốc tế đã đảo ngược hoàn toàn.

Lý do chính cho sự đảo ngược này là ảnh hưởng đối với nền giáo dục đại học của cái gọi là “bước ngoặt tân khai phóng”, một sự quay lưng lại với các chính sách xã hội và trợ cấp an sinh được chính phủ xây dựng ở thế kỷ 20, một cách đối phó với cuộc suy thoái, sự suy giảm kinh tế và hậu quả của chiến tranh thế giới. Đáng nói là nền giáo dục đại học đã vượt qua cú sốc khủng hoảng tài chính năm 2008 và cả các hậu quả suy thoái kinh tế sau đó. Nước Anh ngày nay tin tưởng mạnh mẽ rằng những tư tưởng của một nền giáo dục đại học đại chúng như dân chủ, công bằng xã hội, phát triển cá nhân theo quan niệm của thời Victoria đã không còn phù hợp, lý tưởng của thế hệ thời nay là thịnh vượng, tăng trưởng và khả năng cạnh tranh. Điều đó có tính toàn cầu. Những lý tưởng trước đây của giáo dục quốc tế như đoàn kết, phát triển, tương trợ đã bị thay thế bởi các mệnh lệnh của thị trường, tóm gọn bằng một từ được sử dụng tràn lan là “toàn cầu hoá”.

Ba dịch chuyển

“Bước ngoặt tân khai phóng” có nhiều hình thái, từ dạng ý thức hệ cứng nhắc đến dạng thực dụng linh hoạt. Có thể ví như một nhà thờ đầy con chiên từ tín đồ ngoan đạo đến kẻ bất khả tri có vẻ ngoài sùng kính. Đối với một số người, đó là nền giáo dục đại học – động lực chính, hoặc duy nhất thúc đẩy sự phát triển tương lai. Số khác cho rằng đó là xu hướng tất yếu được tạo nên bởi nhiều yếu tố hoàn cảnh. Do đó rất khó có một định nghĩa súc tích cho “bước ngoặt tân khai phóng”, chỉ có thể minh hoạ trào lưu này bằng ba dịch chuyển chính:

Đầu tiên là sự chuyển đổi từ hình thức “nhà nước phúc lợi” với những chính sách an sinh xã hội được hình thành sau chiến tranh thế giới, trong giai đoạn suy thoái kinh tế, sang cái gọi là “nhà nước thị trường”. Điều này dẫn đến những thay đổi cả về cấu trúc và văn hóa. Những thay đổi cấu trúc bao gồm: Giảm mức thuế thu nhập cá nhân, tăng tín dụng chính phủ (với hệ quả là tác động đến thị trường tài chính) và thu hẹp ngân sách cho các các dịch vụ công. Những thay đổi về văn hoá bao gồm việc xác định lại mục tiêu cốt lõi của nhà nước, thay đổi quan niệm truyền thống về vai trò của nhà nước: từ vai trò phân phối phúc lợi công chuyển sang vai trò “điều phối” đồng thời là “khách hàng”.

“Bước ngoặt tân khai phóng” có nhiều hình thái, từ dạng ý thức hệ cứng nhắc đến dạng thực dụng linh hoạt.

Khía cạnh thứ hai của “bước ngoặt tân khai phóng” là toàn cầu hóa (trên thực tế khái niệm này cũ và phức tạp hơn cách hiểu rộng rãi hiện nay). Th ra khái niệm này rất cổ xưa vì “xã hội toàn cầu” đã có từ lâu trong lịch sử, thị trường toàn cầu đã tồn tại ít nhất nửa thiên niên kỷ. Khái niệm này phức tạp hơn vì sự tương tác giữa các thương hiệu toàn cầu và các nền văn hóa địa phương tạo nên nhiều sắc thái, nhiều hình thức toàn cầu hoá. Một số kiểu toàn cầu hoá xung đột với các thị trường tự do dưới thế lực địa chính trị toàn trị, xung đột đặc biệt dữ dội trong các vùng cai trị bởi chủ nghĩa cực đoan/cuồng tín và chủ nghĩa khủng bố (vô hình chung điều này đã hợp thức hoá cho hiện tượng đáng sợ của các chính sách viện cớ “an ninh quốc gia”). Cũng cần lưu ý rằng, toàn cầu hoá không chỉ là đối với hàng hoá, mà gồm cả các dịch vụ có thể mua bán được như hàng hoá. Mặc dù các cuộc tranh luận về sự hợp tác giáo dục đại học trong các Hiệp định chung về Th g mại Dịch vụ (GATS) hiện vẫn chưa đi đến tiếng nói chung, nhưng đó chắc chắn chỉ là vấn đề về thời gian. Sẽ đến lúc vấn đề giáo dục đại học được nêu ra trong các cuộc đàm phán quốc tế khác như Hiệp định thương mại đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, Hiệp ước thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Khía cạnh thứ ba là cuộc cách mạng trong truyền thông hoặc rộng hơn là văn hoá giao tiếp. Nó chứa đựng nhiều đan xen chằng chịt – nổi lên vai trò của mạng xã hội; chính trị trở thành thời thượng, thành “thương hiệu”; văn hoá đọc sách in truyền thống mất dần (những người bi quan gọi đó là cái chết của các „logo“); xuất hiện các cộng đồng “ảo” (có lợi cho xã hội nếu là những cộng đồng khoa học và tiềm ẩn nguy hại như tình dục ảo, tội phạm ảo); hệ thống thứ bậc tôn ti theo kiểu truyền thống được thay thế bằng hình thức liên kết lịch thiệp “phẳng” và “tức thì” (như Google, v.v…).

Ảnh hưởng đối với giáo dục đại học

Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học, dù ở phạm vi quốc tế hay quốc gia, phải vận hành trong một môi trường xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa rất khác so với những gì chi phối hệ thống giáo dục đại chúng gần nửa thế kỷ trước. Và định hướng của thị trường chỉ là một trong các tác động của môi trường mới.

Những thay đổi trong bản chất của nhà nước chắc chắn làm suy yếu khả năng duy trì hệ thống công của giáo dục đại học, ý tưởng “công cộng” và “hệ thống” đã bị suy giảm; giảm “công” đơn giản vì nó là dịch vụ được cấp ngân sách, giảm “hệ thống” bởi vì nó đòi hỏi “kế hoạch hoá” từ trên xuống và như vậy là đi ngược với quy luật tự do của cơ chế “thị trường”. Tuy thế, hệ thống giáo dục đại học học phí cao chưa khẳng định được vị thế vì một số nước, mặc dù rất khác nhau về chế độ, như Chile và Đức vẫn đang cung cấp một nền giáo dục đại học miễn phí. Ngoài ra, giáo dục đại học còn bị trói buộc bởi những chính sách, quy định mang tính áp đặt của nhà nước.

Toàn cầu hóa có nhiều tác động nhưng lại không rõ ràng. Một mặt, toàn cầu hoá tạo ra các cơ hội tuyệt vời, chẳng hạn: học tập đa văn hoá, giáo dục xuyên quốc gia. Nhưng nó cũng tạo ra các rào cản mới, rõ ràng nhất là trong việc kiểm soát nhập cư. Th trường tự do là dạng thức phổ biến nhất hiện nay của toàn cầu hoá, ngoài ra còn tồn tại hoặc manh nha các hình thức khác. Trào lưu phản đối “bước ngoặt tân khai phóng”, trào lưu đoàn kết bảo vệ môi trường, đấu tranh cho công lý và đạo đức là những hình thức toàn cầu hoá mới đang nhân rộng.

Cuối cùng, những thay đổi trong văn hóa giao tiếp đã hoàn toàn định hình kỳ vọng của sinh viên, mô hình học tập – cũng như tạo ra các thách thức cho cấu trúc giáo dục đại học truyền thống. Hiện tại, trước những thay đổi đó chúng ta đang quá chú tâm vào những vấn đề như MOOC (học trực tuyến-mở-đại chúng), tinh chỉnh chính sách giáo dục đại học hướng đến đáp ứng nhu cầu của “khách hàng” sinh viên dựa vào chẩn đoán và phân tích bằng phần mềm tin học, học tập điện tử (e-learning), thi cử điện tử; và lo ngại trước những hiện tượng tầm thường theo kiểu Twitter. Nhưng cuộc cách mạng truyền thông này cũng đem đến những khía cạnh tích cực như mã nguồn mở, các công trình có thể công bố “ngay lập tức”, tiềm năng cho các liên minh nghiên cứu toàn cầu, sự gắn bó chặt chẽ hơn với cộng đồng người dùng, là những khía cạnh mang lại những lợi ích xã hội nhiều hơn là lợi ích thương mại.