Chất lượng giảng dạy tại Anh dưới kính hiển vi: động lực ở đâu?

Robin Middlehurst

Robin Middlehurst là cố vấn chính sách đối ngoại và giáo sư đại học  Kingston London, Anh quốc. E-mail: r.middlehurst@kingston.ac.uk.

Hệ thống giáo dục đại học của Anh thường được đánh giá khá cao về chất lượng đào tạo dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Ví dụ như năm 2015, bảng xếp hạng quốc gia Guardian thăm dò 119 trường cho thấy tỷ lệ sinh viên hài lòng với giảng dạy là 77,6% đến 93,3%, trong khi đó theo kết quả Khảo sát Sinh viên Quốc gia năm 2015 tại 156 trường, tỷ lệ này là từ 74% đến 98%. Các chỉ tiêu cũng cho thấy Anh là nước có hỗ trợ tốt cho việc hưởng thụ giáo dục đại học của các tầng lớp dân chúng thiểu số, khích lệ sinh viên học tập và thành công trong việc tìm việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Hàng chục năm nay, hệ thống giáo dục đại học Anh có cơ chế giám sát chất lượng chặt chẽ về dạy, học, thi cử và thiết kế chương trình. Các tổ chức chuyên nghiệp, pháp lý và nhà nước giám sát ở mức chương trình, còn Cục Quản lý Chất lượng giám sát ở mức trường. Đánh giá nội bộ cũng như đánh giá từ bên ngoài được hỗ trợ bởi “Bộ Nguyên tắc Chất lượng Đại học” được công bố chi tiết. Ngoài ra Anh còn là nước tiên phong trong việc phát triển “Khung tiêu chuẩn chuyên nghiệp quốc gia” (UKPSF) cho các công việc giảng dạy, học tập và thi cử ở cấp đại học. Cá nhân nào hoàn thành chương trình được UKPSF chấp nhận sẽ được công nhận là “Hội viên” của Học viện Giáo dục Đại học Quốc gia, một tổ chức được lập ra nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Hiện tại Học viện này có hơn 60 ngàn hội viên, kể cả ở nước ngoài.

Những sáng kiến mới về “Giảng dạy xuất sắc”

Có 3 sáng kiến quan trọng đang được triển khai nhằm tập trung hơn vào dạy, học, thi cử và đo lường. Đó là các sáng kiến “Xem xét Đánh giá Chất lượng của các Tổ chức Tài trợ” (2014-2015), đề xuất một cách tiếp cận hoàn toàn mới trong thẩm định chất lượng theo phương thức tự đánh giá cũng như đánh gíá ngoài; sáng kiến “Khuôn khổ Giảng dạy xuất sắc” do Bộ trưởng mới giới thiệu tại London và được công bố trong “Sách Xanh” xuất bản ngày 6.11.2015; và cuộc điều trần của Quốc hội đối với hai tài liệu trên và những ảnh hưởng của các sáng kiến này đến toàn bộ hệ thống. Những sáng kiến trên đang được bàn luận sôi nổi ở trong và ngoài Liên hiệp Anh. Vậy động cơ chính ở đây là gì?

Rõ ràng là không có những “vấn đề chết người” về chất lượng giáo dục ở Anh, thậm chí có thể nói ngược lại. Tất cả các trường đều đang chú trọng vào giảng dạy vào chất lượng và trải nghiệm của sinh viên. Khi mà khó để nắm bắt được những động cơ thực sự trong một bối cảnh chính trị phức tạp, bộ ba sáng kiến trên có thể dựa trên lý do để phát triển nước Anh, hoặc để có cộng hưởng quốc tế rộng rãi hơn.

Góc nhìn chính trị

Đầu tiên là động cơ chính trị, tập trung vào Anh quốc. Trong thập kỷ gần nhất, dưới sự cầm quyền của các đảng phái chính trị khác nhau, nền giáo dục đại học Anh đã có các điều chỉnh mở cửa cho các trường tư tham gia đào tạo và cấp bằng, tiếp cận quỹ tín dụng sinh viên. Học phí sinh viên được công bố và tăng cao. Các thống kê của OECD cho thấy sự dịch chuyển từ hệ thống đa số trường công sang việc gia tăng đầu tư của vào các trường tư trong hệ thống giáo dục đại học – đặc biệt là với các ngành không thuộc nhóm STEM (Science-Khoa học, Techonology–Công nghệ, Engineering–Kỹ thuật và Math-Toán). Ngân sách nghiên cứu tập trung vào một số ít trường hơn và chia xẻ một phần của ngân sách giảng dạy vốn đang bị cắt giảm. Các bộ trưởng bảo thủ trong chính phủ trước và hiện tại có hai quan ngại về những gì đang xảy ra trong giáo dục đại học (như là hệ quả của các chính sách nhà nước). Th nhất là giá-trị-đồng-tiền liên quan đến học phí mới và các mức phí, phí được chính phủ trả trước và người học hoàn lại sau. Th hai là việc đề cao nghiên cứu đang làm phương hại đến chất lượng giảng dạy, giảm mức chi cho giảng dạy, đặc biệt khi so sánh với những sáng kiến trong Khuôn khổ Nghiên cứu Xuất sắc. Việc công bố “Khuôn khổ Giảng dạy Xuất sắc” là để cân bằng lại xu hướng này.

Góc nhìn kinh tế

Động cơ thứ hai là kinh tế, tuy tập trung chỉ ở Anh nhưng có ảnh hưởng rộng hơn. Chính phủ mới được bầu tháng 5/2015 cam kết theo đuổi chính sách tài chính thắt lưng buộc bụng đã được triển khai để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế từ 2007-2008. Việc cắt giảm ngân sách giáo dục đã và sẽ còn xảy ra. Để cắt giảm được nhiều hơn và theo đuổi các mục tiêu như chính sách thúc đẩy thị trường hóa giáo dục, chính phủ đang tìm cách thay đổi toàn diện cấu trúc hệ thống. Các trường mới thì chạy chọt để có thể tham gia vào hệ thống học bổng sinh viên, bảo đảm “sân chơi công bằng” về mặt luật pháp. Các trường “truyền thống” thì đấu tranh đòi bỏ chế độ kiểm soát ngặt nghèo do tăng gánh nặng về chi phí, dựa trên chất lượng đã được minh chứng và chuyển sang hệ thống quản lý chất lượng “dựa trên rủi ro”. Trong khuôn khổ hoạt động xem xét đánh giá chất lượng của các tổ chức tài trợ, nước Anh sẽ nghiên cứu mô hình công nhận học thuật theo vùng của Mỹ và các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng có rủi ro của Úc.

Góc nhìn xã hội

Động cơ thứ ba là góc nhìn xã hội, tuy xuất phát từ hoàn cảnh nước Anh nhưng có ảnh hưởng quốc tế rộng rãi. Hệ thống đại học Anh hiện tại là một hệ thống đa dạng, phục vụ số đông và có nhiều tầng lớp xã hội tham gia. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ và được giám sát, đó vẫn chưa phải là một hệ thống công bằng về khả năng học tập, tiến bộ và thành đạt, nhất là đối với các sinh viên thuộc nhóm xã hội thấp như người da đen, thiểu số hoặc bị tàn tật. Khi thu nhập được nhiều số liệu hơn về các nhóm mục tiêu, bức tranh giữa các trường sẽ rõ ràng hơn, giúp nhận dạng được trường nào đang sử dụng dữ liệu một cách hệ thống để tăng chất lượng sinh viên đầu ra và các trường nào không làm. Việc sử dụng rộng rãi hơn các độ đo để tiệm cận chất lượng và đào tạo xuất sắc được đề xuất trong các xem xét hiện tại.

Tất nhiên là còn những động lực quan trọng khác của các trường đại học và chính phủ như khuyến khích sáng tạo trong giảng dạy và duy trì cạnh tranh toàn cầu trong việc thu hút sinh viên quốc tế, nhưng ba động cơ chính trị, kinh tế và xã hội nêu trên được tranh luận nhiều nhất. Và không có gì ngạc nhiên là cuộc tranh luận này lan sang các quốc gia khác, đặc biệt là những phê phán mạnh mẽ xung quanh hệ thống kiểm định của Mỹ.