Sinh viên quốc tế liệu có được lợi ích từ trải nghiệm du học Mỹ?

Anna Esaki-Smith là đồng sáng lập của tổ chức tư vấn nghiên cứu Suy nghĩ lại về Giáo dục. E-mail: [email protected]

Tóm tắt

Ngày càng nhiều sinh viên quốc tế đi du học để có được những kỹ năng giúp tăng thêm cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp. Những điểm đến như Vương quốc Anh, Úc và Canada không chỉ cung cấp con đường kết nối giáo dục với tương lai nghề nghiệp, mà còn cả dữ liệu đánh giá những lợi ích sinh viên tốt nghiệp quốc tế nhận được từ trải nghiệm học tập ở nước ngoài của họ. Tụt hậu trong cả hai lĩnh vực đó, liệu Hoa Kỳ có thể bắt kịp ba quốc gia nói trên không?

 

Sinh viên quốc tế chọn đi du học vì nhiều lý do khác nhau. Như thường thấy, động lực chính là cơ hội tiếp cận những chương trình học chất lượng cao ở nước ngoài hoặc ít cơ hội giáo dục đại học ở quê nhà. Những quốc gia nói tiếng Anh cũng cho họ cơ hội thông thạo tiếng Anh, một kỹ năng được nhiều người coi là quan trọng đối với sự thành công trong tương lai.

Tuy nhiên, điều thúc đẩy sinh viên quốc tế nhìn xa hơn biên giới quốc gia đã thay đổi trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa ngày càng bị gián đoạn bởi công nghệ. Chắc chắn, những yếu tố ảnh hưởng ban đầu vẫn còn. Nhưng những gì sinh viên mong muốn có được từ trải nghiệm du học của họ đã trở nên hữu hình và thực tế hơn về bản chất, trong đó tăng thêm cơ hội có việc làm hiện giữ vị trí đầu.

Người ta bàn luận nhiều về những kỹ năng mà sinh viên có được khi học tập ở nước ngoài: khả năng tư duy phản biện và sự sáng tạo, trong số những cái gọi là “kỹ năng mềm” khác, bên cạnh những kỹ năng công nghệ khó hơn từ những chương trình học liên quan đến STEM. Tuy nhiên, ở một mức độ lớn, trải nghiệm du học thực sự nâng cao cơ hội được tuyển dụng hầu hết vẫn là giai thoại. Vì vậy, trước việc sinh viên yêu cầu bằng chứng cụ thể về lợi ích của một nền giáo dục ở nước ngoài, Hoa Kỳ có thể giới thiệu điều gì khi tìm kiếm khách hàng tiềm năng?

Dường như được chào đón hơn, nhưng chỉ như vậy là chưa đủ

Dữ liệu Open Doors gần đây của Institute of International Education cho thấy số lượng sinh viên quốc tế đăng ký học tại Hoa Kỳ đã giảm 15% trong năm học 2020-2021, với tổng số giảm xuống dưới một triệu lần đầu tiên kể từ năm 2016. Không gì phải nghi ngờ là sự sụt giảm này chủ yếu do tác động của đại dịch. Tuy nhiên, nhận thức rằng chính quyền Trump không hoan nghênh sinh viên quốc tế, cùng với những lo ngại về an toàn cá nhân do bất ổn xã hội, cũng góp phần làm giảm sự quan tâm.

Sự đắc cử của một tổng thống mới, được nhiều người coi là thân thiện hơn với cộng đồng quốc tế, đã truyền cho thị trường sự lạc quan rất cần thiết. Thật vậy, vào tháng 7 năm 2021, một “cam kết đổi mới của Hoa Kỳ” do Bộ Ngoại giao và Giáo dục ban hành nhằm thúc đẩy Hoa Kỳ trở thành một điểm đến học tập cho sinh viên quốc tế vừa bất ngờ, vừa được hoan nghênh nhiệt liệt. Tiếng chuông ủng hộ rõ ràng của chính quyền Biden đã làm giảm bớt lo ngại rằng chương trình Đào tạo Thực hành Tùy chọn (Optional Practical Training – OPT) – cho phép sinh viên tốt nghiệp quốc tế làm việc ít nhất một năm tại Hoa Kỳ sau khi tốt nghiệp sẽ bị hủy bỏ.

Tuy nhiên, chỉ gia hạn về mặt tình cảm là chưa đủ. Hoa Kỳ vẫn thiếu những chính sách giáo dục quốc tế tương tự như chính sách giáo dục của những quốc gia cạnh tranh như Úc, Canada và Vương quốc Anh. Những điểm đến này không chỉ cung cấp lộ trình rõ ràng hơn để sinh viên tốt nghiệp có cơ hội làm việc và tương lai nghề nghiệp, họ còn công khai kết quả tốt nghiệp để nhấn mạnh chiến lược tuyển sinh của các trường đại học của mình. Với việc công nghệ phá vỡ các ngành công nghiệp ở nhiều mức độ và lực lượng lao động cạnh tranh ngày càng tăng, nhu cầu lập bản đồ nghề nghiệp của sinh viên quốc tế tốt nghiệp từ các trường Hoa Kỳ ngày càng cấp thiết. Thêm vào áp lực phải làm như vậy là sự xuất hiện nhiều hơn những lựa chọn du học ở những nước như Đức, Nhật Bản và Hà Lan, rẻ hơn và được cho là an toàn hơn.

Thu thập dữ liệu về cựu sinh viên quốc tế có thể hỗ trợ chiến lược tuyển sinh

Trong nghiên cứu “Con đường Nghề nghiệp cho Sinh viên Quốc tế” mà tôi thực hiện cho Hội đồng Giáo dục Hoa Kỳ, tôi đã nhận thấy chúng ta biết rất ít về việc sinh viên quốc tế tốt nghiệp các trường đại học Hoa Kỳ thực sự được đánh giá thế nào trên thị trường việc làm. Đơn giản là chúng ta không biết liệu con đường sự nghiệp của họ có thay đổi nhờ trải nghiệm du học của họ hay không. Phần lớn các trường đại học không theo dõi sinh viên quốc tế tốt nghiệp của họ, ở Hoa Kỳ, ở quốc gia quê hương của họ, hoặc ở nơi khác, giống như cách họ theo dõi các cựu sinh viên trong nước.

Rất nhiều lý do giải thích cho sự thiếu hụt dữ liệu này. Theo một cuộc khảo sát 100 trường đại học do Academic Assembly và công ty tiếp thị Intead thực hiện, 65% người được hỏi nói rằng họ không có đủ nhân lực để theo dõi các cựu sinh viên quốc tế. Không đủ thời gian và ngân sách, và thiếu hệ thống quản lý dữ liệu là một trong những lý do được nêu ra.

Điều này trái ngược với Vương quốc Anh, nơi những nỗ lực được thực hiện để định lượng ảnh hưởng của trải nghiệm du học ở Vương quốc Anh. Ví dụ, thay mặt cho các trường Đại học Quốc tế Vương quốc Anh, công ty tư vấn iGraduate đã công bố báo cáo nghiên cứu Kết quả tốt nghiệp quốc tế 2019 dựa trên khảo sát, theo dõi kết quả nghề nghiệp của một số lượng lớn sinh viên quốc tế đã học tập tại Vương quốc Anh. Trong số những phát hiện mà báo cáo tiết lộ, 69% người được hỏi nói rằng họ thăng tiến nhanh hơn trong sự nghiệp so với những đồng nghiệp đã học ở nơi khác, 82% nói rằng bằng cấp của Vương quốc Anh đáng để đầu tư, và 83% nói rằng bằng cấp nhận được ở Vương quốc Anh đã giúp họ có được công việc đầu tiên.

 

            Các trường đại học ngày càng được coi là cánh cổng dẫn đến tài năng toàn cầu.

 

Hoa Kỳ đang thiếu điều gì, và thứ gì đang bị đe dọa

Thiếu khả năng kết nối một cách tối ưu sinh viên quốc tế tốt nghiệp với việc làm và những chính sách nhập cư khiến Hoa Kỳ tụt hậu so với những quốc gia cạnh tranh đang thu hút sinh viên bằng những đề nghị được đóng gói gọn gàng, đáp ứng những nguyện vọng ngoài giáo dục. Ví dụ Canada có chiến lược quốc gia thu hút sinh viên quốc tế được củng cố bằng những lộ trình không chỉ có việc làm mà còn trở thành công dân. Kết quả thế nào? Từ năm 2010 đến năm 2017, số lượng sinh viên quốc tế đến học tại Canada đã tăng 119%.

Ngoài ra, các trường đại học ngày càng được coi là cánh cổng dẫn đến tài năng toàn cầu. Một số lượng đáng kể sinh viên quốc tế theo đuổi STEM và những ngành học liên quan tại các trường đại học ở Hoa Kỳ và những nơi khác, và nhiều người đã thành lập và lãnh đạo những công ty công nghệ. Khi công nghệ tiếp tục phá vỡ các ngành công nghiệp, nhu cầu về tài năng công nghệ theo đó mà tăng lên. Vì vậy, những quốc gia điểm đến ban đầu mong muốn thu hút sinh viên quốc tế chỉ đơn giản là để thu học phí ngày càng coi trọng những gì sinh viên tốt nghiệp có thể cung cấp với tư cách là thành viên trong lực lượng lao động của họ.

Có rất nhiều thứ đang bị đe dọa. Kết hợp tài năng quốc tế vào lực lượng lao động của một quốc gia, đặc biệt trong những lĩnh vực công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo, là chìa khóa để duy trì khả năng cạnh tranh toàn cầu. Việc làm trong lĩnh vực công nghệ và khoa học ở Hoa Kỳ nhiều hơn con số 3 triệu lao động có trình độ vào năm 2016, và đến năm 2030, toàn cầu dự kiến ​​sẽ thiếu hơn 85 triệu lao động công nghệ, tương đương với 8,5 nghìn tỷ USD doanh thu hàng năm bị mất.

Hoa Kỳ cần làm gì để duy trì sức cạnh tranh

Bất chấp những thách thức, vẫn có những dấu hiệu đầy hứa hẹn. Những cuộc khảo sát do Hiệp hội Vật lý Hoa Kỳ thực hiện vào năm 2019 chỉ ra rằng những chính sách liên bang có thể đảo ngược xu hướng giảm; cho thấy việc biến thị thực F-1 thành “mục đích kép”, và cung cấp một lộ trình rõ ràng để có thẻ xanh cho sinh viên quốc tế đạt được bằng cấp STEM nâng cao từ các trường đai học Hoa Kỳ sẽ giúp khôi phục Hoa Kỳ như một điểm đến cạnh tranh.

Sẽ rất hữu ích nếu thực hiện một nghiên cứu riêng về Hoa Kỳ để thu thập dữ liệu đáng tin cậy từ các trường đại học Hoa Kỳ. Điều này có thể được thực hiện thông qua một cuộc khảo sát sinh viên quốc tế hiện tại và những cựu sinh viên tốt nghiệp gần đây, để xác định mối liên hệ giữa việc học tập ở nước ngoài và cơ hội được tuyển dụng. Những hiểu biết thu được từ nghiên cứu như vậy sẽ cho phép các trường đại học tích hợp cơ hội được tuyển dụng của sinh viên tốt nghiệp vào chiến lược tuyển sinh và quốc tế hóa của trường. Việc khó hơn là đo lường những đóng góp kinh tế và đổi mới của sinh viên tốt nghiệp quốc tế, nhưng những nghiên cứu điển hình về việc làm của sinh viên tốt nghiệp quốc tế, lập bản đồ quỹ đạo sự nghiệp của họ và mức độ ảnh hưởng mà họ tạo ra, có thể cung cấp những dữ liệu rất cần thiết.

Nhìn chung, ngay cả khi thiếu dữ liệu của Hoa Kỳ, vẫn có thể đưa ra kết luận rằng chỉ riêng việc sống và học tập ở nước ngoài đã khiến sinh viên mở mang bản thân theo cách mà họ không làm được ở quê nhà. Củng cố nền tảng đó bằng những phản hồi có thể định lượng được từ sinh viên quốc tế về việc trải nghiệm du học Mỹ mang lại những lợi ích cụ thể nào cho họ – sẽ có tác dụng rất lớn. Và mặc dù chúng tôi giả định rằng sinh viên tốt nghiệp quốc tế có nhiều cơ hội được tuyển dụng hơn là kết quả mong muốn, liệu chúng ta có thể chắc chắn rằng không có những người khác? Hiểu rõ về việc những kỳ vọng có được đáp ứng hay không sẽ trang bị cho chúng ta tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sinh viên trong một thế giới ngày càng biến động.