Cần những quyết định quan trọng: tiếng Anh trong khoa học và giảng dạy ở những nước không nói tiếng Anh

Hans de Wit là Giáo sư danh dự và là một học giả ưu tú, và Philip G. Altbach là Giáo sư nghiên cứu và là một học giả ưu tú của Trung tâm Giáo dục Đại học Quốc tế, Trường Đại học Boston, Hoa Kỳ. Email: [email protected][email protected]

Lisa Unangst là Trợ lý giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Ohio, Athens, Hoa Kỳ. Email: [email protected] .

Bài viết này dựa vào một chương của cùng tác giả từ cuốn sách sắp ra mắt có tên là Du học và tuyển sinh và du học sinh quốc tế trong những quốc gia không sử dụng tiếng Anh. Lý thuyết, Chủ đề và Hình mẫu, được biên tập bởi Hans de Wit, Ekaterina Minaeva và Lizhou Wang (Routledge Internationalization in Higher Education Series, tháng 2 năm 2022).

Tóm tắt

Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến trong giảng dạy và báo cáo khoa học trên toàn thế giới. Ngày càng có nhiều nhu cầu tiếp cận những nghiên cứu khoa học được viết bằng những ngôn ngữ khác và từ những nền tảng văn hóa và khu vực khác. Những quốc gia không nói tiếng Anh cần tìm sự cân bằng giữa chất lượng giáo dục, dịch vụ cho sinh viên của họ, nỗ lực mở rộng khả năng tiếp cận và bản sắc dân tộc, cũng như làm cho nền giáo dục đại học của họ trở nên hấp dẫn đối với sinh viên quốc tế.

Gần đây, có hai nghiên cứu minh họa những khía cạnh phức tạp của việc sử dụng tiếng Anh trong khoa học. Theo một báo cáo vào tháng 9 năm 2021 của Viện Thông tin Khoa học Clarivate, tiếng Anh đã thay thế tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Tây Ban Nha để trở thành ngôn ngữ khoa học chính ở châu Mỹ Latinh. Trong bối cảnh kết quả nghiên cứu chung của châu Mỹ Latinh tăng nhiều hơn so với đa số khu vực khác trên thế giới trong bốn thập kỷ qua, phát hiện này có ý nghĩa đặc biệt và cho thấy kết quả của việc tăng cường hợp tác với các nhà khoa học ở ngoài khu vực, đặc biệt ở những nước nói tiếng Anh và châu Âu, trong khi hợp tác trong khu vực vẫn còn ở mức thấp (xem thêm bài “Tiếng Anh – Ngôn ngữ cầu nối trong việc đào tạo tiến sĩ ở châu Mỹ Latinh?” của Natalia Ávila Reyes trong số này). Những phát hiện này minh họa cho sự thống trị của các trung tâm nghiên cứu của những quốc gia nói tiếng Anh và phương Tây ở những nước không nói tiếng Anh.

Đồng thời, theo một bài đăng trên Times Higher Education (ngày 7 tháng 10 năm 2021), một bài báo trong tạp chí PLOS Biology cho rằng “những công bố không viết bằng tiếng Anh chứa đựng những thông tin chưa được khai thác, rất quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu, đặc biệt ở những khu vực quen thuộc của những nhà khoa học chỉ công bố bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ”. Tác giả chính Tatsuya Amano tuyên bố trên Times Higher Education rằng các nhà nghiên cứu có xu hướng “giả định một cách mù quáng” rằng mọi kiến thức khoa học quan trọng đều có sẵn bằng tiếng Anh, và “chúng ta cần xem xét lại giả định này trong nhiều lĩnh vực”.

Hai báo cáo này minh họa rõ tình trạng khó xử của tiếng Anh với vai trò ngôn ngữ chính trong khoa học. Một mặt, tiếng Anh được sử dụng nhiều hơn như ngôn ngữ chính trong báo cáo khoa học và sự thống trị của phương Tây trong khoa học cũng gia tăng. Mặt khác, nhu cầu tiếp cận những nghiên cứu khoa học được viết bằng những ngôn ngữ khác và từ những nền tảng văn hóa và khu vực khác cũng ngày càng tăng. Từ khía cạnh lạc quan, người ta có thể lý luận rằng việc thu hút những đồng tác giả từ những khu vực không phải phương Tây tham gia vào các công bố khoa học sẽ kích thích đầu vào đa dạng hơn và thông qua họ, sự tiếp cận những báo cáo bằng những ngôn ngữ khác và từ những nền văn hóa khác. Sự sẵn có và chất lượng của các công cụ dịch ngày càng tăng cũng khuyến khích việc tiếp cận những nguồn tư liệu bằng những ngôn ngữ khác. Nhưng điều này sẽ chỉ thực hiện được thông qua cách tiếp cận phi thực dân, chủ động hơn của các nhà khoa học, các tổ chức tài trợ nghiên cứu và các nhà xuất bản khoa học phương Tây nhằm chấm dứt sự thống trị hiện nay của họ và mở ra cho chính họ một thực tiễn hợp tác và phổ biến khoa học toàn diện hơn.

 

Không chỉ là ngôn ngữ thống trị toàn cầu trong khoa học và học thuật, tiếng Anh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong giảng dạy trên khắp thế giới.

 

Tiếng Anh như một phương tiện giảng dạy

Không chỉ là ngôn ngữ thống trị toàn cầu trong khoa học và học thuật, tiếng Anh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong giảng dạy trên khắp thế giới. Trong vài thập kỷ qua, những phát triển như sự gia tăng nhanh chóng hoạt động du học toàn cầu, quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa các cơ sở giáo dục đại học, và ở mức độ nào đó, sự ra đời của các bảng xếp hạng đại học thế giới, đều góp phần củng cố vai trò của tiếng Anh như một phương tiện giảng dạy (English Medium of Instruction – EMI).

Cách tiếp cận EMI khác nhau tùy thuộc vào những bối cảnh khác nhau trong những quốc gia không nói tiếng Anh. Chẳng hạn, trước đây sinh viên ở những nước thuộc địa phải đến, ví dụ như Vương quốc Anh, để học đại học; hoặc hệ thống giáo dục đại học của một số quốc gia chỉ gần đây mới chuyển sang giảng dạy bằng tiếng Anh. Khó có con số chính xác, nhưng chỉ riêng ở châu Âu, hơn 8000 chương trình cấp bằng cử nhân và thạc sĩ được giảng dạy bằng tiếng Anh. EMI cũng có mặt ở châu Phi, châu Á, châu Mỹ Latinh và Trung Đông. Đây là một hiện tượng toàn cầu làm nảy sinh những vấn đề về đảm bảo chất lượng, quyền tiếp cận và công bằng, cũng như những lo ngại chính trị.

Ở khía cạnh toàn cầu, có nhiều lý do và nguyên nhân để theo đuổi EMI. Quyết định theo đuổi EMI có thể là một phần của sự lặp lại chính sách ở cấp độ hệ thống (như trong trường hợp của Rwanda, nước này đã chuyển từ tiếng Pháp sang tiếng Anh như một ngôn ngữ giảng dạy chủ yếu vào năm 2008) hoặc ở cấp độ thể chế, thể hiện trong việc mở rộng những chương trình dạy bằng tiếng Anh ở các cơ sở công lập và tư thục trên khắp lục địa châu Âu, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác.

EMI không có một mô hình duy nhất, nếu xét từ khía cạnh kinh phí, nội dung, mục đích, chương trình giảng dạy, đội ngũ giảng viên, tuyển sinh hoặc tính ổn định. EMI được áp dụng trong các trường đại học nghiên cứu cũng như trong các loại hình đào tạo công và tư khác. Nó chứa đựng những căng thẳng thuộc địa và sự hấp dẫn của thị trường; ở cấp độ chính sách và chương trình, chính sách và thực tiễn EMI vẫn còn rời rạc.

Dù các bên liên quan của khu vực công lập ở cấp thành phố, khu vực và liên bang/ quốc gia, cũng như nhiều bên liên quan của khu vực tư nhân đều tham gia vào nhiều kế hoạch EMI khác nhau, điều thú vị là lĩnh vực EMI vẫn không thu hút được nhiều sự chú ý hơn từ phía những tổ chức siêu quốc gia liên quan đến chính sách giáo dục, thực hành và tài trợ. Điều này có thể phần nào do bối cảnh phức tạp: EMI được áp dụng ở nhiều quy mô khác nhau, trong những bối cảnh hoàn toàn khác nhau và với những lý do, mục tiêu, nguồn lực và kết quả khác nhau ở những quốc gia khác nhau. Có nhiều hiệp hội nghề nghiệp phục vụ những người thực hành EMI và những sinh viên tìm kiếm nó. Có cả một ngành công nghiệp để thử nghiệm, cung cấp dịch vụ và đào tạo trong lĩnh vực này, và cũng có một loạt chính sách và thông lệ ở cấp độ cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, do thiếu vắng những chính sách quốc gia và toàn cầu hiện tại, những lập luận ngôn ngữ và EMI, chính sách, chương trình và kết quả của EMI dường như vẫn còn rời rạc. Điều này tạo ra những vấn đề xuyên quốc gia trong tiếp cận và công bằng mà chúng tôi nhận thấy là đáng lo ngại.

Đối với quốc tế hóa, và cụ thể hơn là giáo dục đại học như một loại hàng hóa xuất khẩu ở những nước không nói tiếng Anh, sự căng thẳng rất rõ ràng. Sự thống trị của tiếng Anh trong giao tiếp như ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc ngoại ngữ đã mang lại cho những quốc gia nói tiếng Anh có thu nhập cao hơn một lợi thế cạnh tranh trong tuyển sinh quốc tế. Những quốc gia không nói tiếng Anh và các cơ sở giáo dục đại học của họ ngày càng có xu hướng sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy bên cạnh ngôn ngữ quốc gia của họ. Với việc giáo dục đại học trở thành một mặt hàng xuất khẩu, những nước không nói tiếng Anh cần tìm ra sự cân bằng giữa một bên là chất lượng giáo dục, dịch vụ cho sinh viên của họ, nỗ lực mở rộng khả năng tiếp cận và bản sắc dân tộc, và bên kia là chính sách tuyển sinh tích cực và làm cho giáo dục đại học của họ trở nên hấp dẫn đối với sinh viên quốc tế – những người không thông thạo ngôn ngữ giảng dạy địa phương; nói cách khác, là cung cấp cho họ những chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh. Điều này đòi hỏi một chính sách về ngôn ngữ giáo dục của quốc gia và của các trường đại học, đây là điều vẫn còn thiếu ở hầu hết các quốc gia hoặc đang bị đình trệ trong các cuộc tranh luận gay gắt.